Afghanistan sụp đổ và chuyến thăm Việt Nam của Kamala Harris

Hieu Chan / Vietnamese

Chuyến thăm Singapore và Việt Nam vào tuần tới của Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris diễn ra trong bối cảnh chính phủ Afghanistan sụp đổ nhanh chóng, và sự rút lui khó khăn và hỗn loạn của Hoa Kỳ đã làm dấy lên nhiều chỉ trích và nghi ngờ về năng lực và độ tin cậy của người Mỹ.

Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris sẽ đến Singapore vào ngày 22, đến Hà Nội vào ngày 24 và lên đường vào ngày 26/8. (Hình minh họa: Megan Varner / Getty Images)

Đã có nhiều ý kiến ​​của các nhà bình luận chính trị cho rằng sự kiện Afghanistan khiến các đồng minh của Mỹ trên thế giới coi người Mỹ là không đáng tin cậy; Các nước Đông Á đang hy vọng vào vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới trước sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc nên xem xét lại cam kết của người Mỹ và đưa ra những lựa chọn phù hợp.

Câu chuyện này nên được nhìn nhận như thế nào và chuyến đi của Phó Tổng thống Kamala Harris đến Đông Nam Á đã bị ảnh hưởng ở mức độ nào?

Afghanistan: Đông Nam Á được hưởng lợi

Chuyến đi của bà Harris đã được lên kế hoạch từ trước và một quan chức cấp cao của Nhà Trắng xác nhận với tờ Washington Post rằng sẽ không có gì thay đổi: bà Harris sẽ đến Singapore vào ngày 22, tại Hà Nội vào ngày 24. và rời đi ngày 26 tháng 8.

Tại Singapore, bà sẽ hội đàm với Thủ tướng Lý Hiển Long, phát biểu trên tàu chiến Hoa Kỳ thăm Singapore.

Tại Việt Nam, bà sẽ hội đàm với Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Phạm Minh Chính, thăm một số cơ sở tôn giáo và dự lễ khánh thành Văn phòng khu vực ASEAN của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC). .

Một quan chức cấp cao khác xác nhận với Reuters rằng chuyến thăm của bà Harris nhấn mạnh cam kết của Mỹ ở lại Đông Nam Á, khi Washington tìm cách tăng cường hỗ trợ quốc tế để chống lại ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Quốc gia.

Trong chính sách đối ngoại của chính quyền Biden-Harris, cạnh tranh toàn diện với Trung Quốc là yếu tố trung tâm, và mối quan hệ Mỹ – Đông Nam Á do đó là “trung tâm của trung tâm”, Hoa Kỳ sẽ không rời bỏ. Đông Nam Á dường như đang rời xa Afghanistan hoặc Syria.

Theo quan điểm đó, việc Mỹ rút quân đột ngột và hỗn loạn khỏi Afghanistan sẽ không làm suy yếu các mục tiêu dài hạn của Mỹ, cũng như cản trở việc tăng cường quan hệ của Mỹ với các nước Đông Nam Á nơi Mỹ có lợi ích chiến lược. Hãy lưu ý những gì Tổng thống Biden đã nói trong bài phát biểu trước quốc dân về tình hình ở Afghanistan ngày 16/8: “Chúng ta hãy tập trung chú ý vào những mối đe dọa mà chúng ta phải đối mặt hôm nay, năm 2021 này, chứ không phải những mối đe dọa của ngày hôm qua”. Không cần nói thì ai cũng biết mối đe dọa chính là Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Những bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Nga và Trung Quốc những ngày này đã liên tục cảnh báo rằng việc người Mỹ “trốn thoát” khỏi Afghanistan chứng tỏ cho các đồng minh của Mỹ ở Đông Á như Đài Loan và Philippines rằng họ không thể tin tưởng được. sự bảo vệ của người Mỹ.

Nhưng nhìn xa hơn những sự kiện hiện tại, có thể dễ dàng nhận thấy rằng việc rút ra khỏi vũng lầy Afghanistan sẽ tạo cơ hội cho người Mỹ tập trung nguồn lực vào việc bảo vệ vị thế của Mỹ ở Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Dương, nói chung, thực hiện chiến lược “tái cân bằng” bắt đầu dưới thời Tổng thống Barack Obama, bị lãng quên dưới thời Tổng thống Donald Trump, và bây giờ được hồi sinh dưới thời Tổng thống Joe Biden. Các quan chức ngoại giao và quân sự cấp cao của Mỹ nhiều lần khẳng định việc rút quân khỏi Afghanistan là để tập trung đối phó với Trung Quốc ở Thái Bình Dương.

Trên tờ The Diplomat, nhà báo David Hutt nhận xét: “Nếu lịch sử cho chúng ta biết bất cứ điều gì, thì việc Mỹ rút lui khỏi một khu vực trên thế giới thường là để can dự mạnh mẽ hơn vào một khu vực khác.” Lê Hồng Hiệp, chuyên gia Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS tại Singapore, nhận xét: “Cuối cùng, Đông Nam Á có thể được hưởng lợi từ việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan”.

Cần lưu ý rằng trong tình trạng hỗn loạn đang diễn ra ở sân bay Kabul, các nước Đông Nam Á vội vàng sơ tán các nhà ngoại giao và công dân của họ nhưng không công khai phản đối hay chỉ trích Mỹ như các nước khác. Các nước Châu Âu gần với Mỹ; hầu hết đều ngầm ủng hộ việc rút quân của Mỹ.

Việt Nam sẽ lại mất cơ hội

Chuyến đi của Phó Tổng thống Harris tới Singapore và Việt Nam sau chuyến thăm tương tự của Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin gần một tháng trước, với mục đích nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường quan hệ an ninh và quốc phòng giữa Mỹ và các đối tác. Đông Nam Á, khẳng định cam kết của Mỹ trong việc bảo vệ tự do hàng hải và phản bác các yêu sách chủ quyền vô căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tại Việt Nam, Phó Tổng thống Harris đương nhiên cũng trao đổi về các vấn đề nóng như hợp tác chống đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu toàn cầu, khôi phục chuỗi cung ứng hàng hóa bị gián đoạn do đại dịch, tình hình nhân quyền… nhưng chắc chắn hợp tác an ninh vẫn còn trọng tâm. Bà Harris chắc chắn hứa sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam, tài trợ vắc xin và trang thiết bị y tế mà Việt Nam đang rất cần do tình hình dịch bệnh rất nguy cấp; hỗ trợ Việt Nam đối phó với biến đổi khí hậu và tác động của nó đối với Đồng bằng sông Cửu Long… Các lĩnh vực hợp tác nhân đạo này dễ đạt được sự đồng thuận, nhưng các vấn đề an ninh và nhân quyền thì không. không dễ thế đâu.

Nhiều nhà bình luận chính trị dự đoán trong chuyến thăm của Phó Tổng thống Harris, Việt Nam và Mỹ có thể sẽ nâng tầm quan hệ song phương từ “đối tác toàn diện” lên “đối tác chiến lược” – tức là thân thiết. nhiều hơn một bước – nhưng tôi e rằng điều đó sẽ chưa xảy ra. Việt Nam hiện có quan hệ đối tác chiến lược với 18 quốc gia, dẫn đầu là Trung Quốc, nhưng không có Mỹ, đồng nghĩa với việc quan hệ Việt – Mỹ vẫn bị xếp vào “bậc dưới” trong nấc thang chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Đó là do sự đối lập về thể chế chính trị (dân chủ so với độc tài đảng trị) và những xung đột trong quá khứ khiến Mỹ và Việt Nam chưa bao giờ tin tưởng nhau để tiến tới quan hệ đối tác chiến lược. Mặc dù Tổng thống Obama và các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Mỹ đã nhiều lần khẳng định Mỹ “không làm việc để thay đổi chế độ Cộng sản Việt Nam”.

Nhưng quan trọng hơn hết, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn còn lệ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, cả về tư tưởng, mô hình độc đoán trong quản trị, cả về kinh tế, thương mại và mọi mặt khác, ngay cả phương pháp phòng chống COVID-19 cũng sao chép từ Trung Quốc .

Giới lãnh đạo CSVN ở Hà Nội rất sợ làm mất lòng người anh em Bắc Kinh, nên mọi động thái kể cả đối nội và đối ngoại đều phải được Trung Quốc bật đèn xanh mới dám làm. Ví dụ như chiến lược quốc phòng “ba không” của Việt Nam (không tham gia liên minh quân sự; không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để đánh nước kia). , là một cái bẫy do Bắc Kinh giăng ra cho Hà Nội nhằm ngăn cản bất kỳ liên minh quân sự nào với Mỹ nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước sự xâm lấn của Trung Quốc.

Hà Nội sẽ khó có thể đưa mối quan hệ của mình với Mỹ lên ngang tầm với mối quan hệ với Trung Quốc. Những tuyên bố của lãnh đạo Hà Nội về Biển Đông và quan hệ với Mỹ suy cho cùng cũng chỉ là những lời trấn an dư luận trong nước mà không đụng chạm gì đến hành động lấn chiếm của Trung Quốc. .

Chỉ vài ngày trước khi bà Harris đến Hà Nội, tờ báo Quân đội Nhân dân đã đăng một bài bình luận nảy lửa, phản bác lại việc các nhà văn ở nước ngoài so sánh diễn biến ở Kabul với sự thất thủ của Sài Gòn năm 1975, mà trọng tâm của tờ báo này là lên án ” chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam ”với những lời lẽ rất đanh thép mà chúng tôi không tiện trích dẫn ở đây. Với tâm lý như vậy của Hà Nội, còn quá sớm để hy vọng vào sự hợp tác chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng và an ninh.

Đối với nhân quyền cũng vậy. Mỹ không có chủ trương nói với Việt Nam phải làm gì trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền của người dân, mà chỉ muốn Việt Nam tuân thủ các quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1986 mà Việt Nam đã ký kết. kết luận. Nhưng Hà Nội có truyền thống đi ngược lại các cam kết quốc tế, và đàn áp nhân quyền, tước quyền tự do, bịt miệng tiếng nói đối lập là chiến lược chính của Đảng Cộng sản để duy trì quyền lực toàn trị. có thể được bỏ. Năm ngoái, việc công an CSVN bắt nhà báo tự do Phạm Đoan Trang ngay sau khi kết thúc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ là một ví dụ cho thấy đối thoại nhân quyền với Việt Nam là vô ích!

Phó Tổng thống Harris đã đến Hà Nội với lời thỉnh cầu của nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ, các tổ chức nhân quyền và gia đình các tù nhân lương tâm đang bị giam giữ tại Việt Nam, yêu cầu chấm dứt đàn áp và trả tự do cho họ. đối với tù nhân chính trị. Bà Harris chắc chắn sẽ nêu vấn đề nhân quyền trong các cuộc gặp với lãnh đạo Hà Nội, nhất là khi Hoa Kỳ đặt tự do, dân chủ và nhân quyền làm cốt lõi trong quan hệ với các nước khác.

Tuy nhiên, đừng mong đợi tình hình nhân quyền ở Việt Nam được cải thiện với chuyến thăm của phó tổng thống Hoa Kỳ; Cùng lắm là Việt Nam chỉ đồng ý trả tự do cho một số tù nhân lương tâm nổi tiếng với điều kiện họ phải ra nước ngoài và chính phủ Hoa Kỳ đáp ứng một số yêu cầu nhất định của Hà Nội.

Về lâu dài, Mỹ cần thay đổi cách thức đối thoại nhân quyền với Hà Nội, không cần biểu tình công khai, nhưng gia tăng sức ép sau hậu trường, trong các cuộc tiếp xúc cấp cao giữa hai bên đồng thời áp dụng các biện pháp khác. các biện pháp trừng phạt đối với các quan chức đàn áp công dân, theo luật Magnitsky Toàn cầu mà Washington đang thực thi ở các quốc gia khác.

Chuyến thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Harris tái khẳng định Việt Nam có vị trí quan trọng trong chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ cần Việt Nam làm công việc của mình trong việc ngăn chặn quá trình mở rộng thế giới. sức mạnh của Trung Quốc. Nhưng một lần nữa, kỳ vọng của Washington sẽ không được Hà Nội chấp nhận một cách chân thành, và một cơ hội “thoát Trung” sẽ lại bị bỏ lỡ. [qd]

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *