Cách thức làm hồ sơ bảo lãnh theo diện hôn phu hôn thê

Luật Di trú Hoa Kỳ là một luật rất phức tạp, nên theo yêu cầu của đa số độc giả cần am hiểu và hiểu biết về luật này, nhật báo Người Việt kính mời Luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương thuộc Nhóm Luật Sư Nguyễn & Lưu, www.NguyenLuu .com, phụ trách chuyên mục “Tìm hiểu Luật Di trú”, đăng hàng tuần trên Người Việt. Luật Sư Darren Nguyễn Ngọc Chương là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Quận Cam, California, được Luật Sư Tiểu Bang California công nhận về chuyên môn trong Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay, California có trên 190,000 luật sư, nhưng chỉ có 235 luật sư có bằng cấp chuyên môn về Luật Di trú, trong số đó có Luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương. Luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương từng làm việc cho Sở Di trú Hoa Kỳ (INS). Luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương có nhiều kinh nghiệm trong việc thiết lập hồ sơ và bổ sung các giấy tờ cần thiết để được Sở Di Trú chấp thuận.

Darren Nguyen Ngoc Chuong, Esq.

Hai người phải kết hôn trong vòng 90 ngày sau khi “người được thừa kế” được nhận vào Hoa Kỳ. (Ảnh minh họa: Drew Coffman trên Unsplash)

Thị thực K-1 (tức là hôn phu hoặc hôn thê) là thị thực có giới hạn cho “người thừa kế” vào Hoa Kỳ và ở lại Hoa Kỳ trong 90 ngày để kết hôn với “người bảo lãnh”. . ” Sau khi kết hôn với “người bảo lãnh”, “người thụ hưởng” phải nộp đơn xin thay đổi tình trạng nhập cư (tức là Điều chỉnh Tình trạng) thành thường trú nhân.

Mục 214 (d) của bộ luật nhập cư cho phép cấp thị thực K-1 cho hôn phu hoặc hôn thê của công dân Hoa Kỳ sau khi đơn I-129F được chấp thuận. Đơn yêu cầu phải được nộp tại Hoa Kỳ và kèm theo các tài liệu cụ thể để chứng minh rằng hai người:

1-Đã gặp trực tiếp trong vòng hai năm trước khi nộp đơn I-129F, hoặc yêu cầu này được miễn.

2- Có ý định kết hôn.

3-Có quyền kết hôn hợp pháp với nhau và đồng ý kết hôn với nhau tại Hoa Kỳ trong vòng 90 ngày sau khi “người thừa kế” nhập cảnh Hoa Kỳ.

Nếu cặp đôi không kết hôn trong vòng 90 ngày, “người thụ hưởng” phải rời khỏi Hoa Kỳ và nếu không, có thể bị USCIS thủ tục trục xuất.

Phải gặp nhau trong vòng hai năm

Mục 214 (d) của bộ luật di trú yêu cầu hai người gặp mặt trực tiếp trong hai năm trước khi nộp đơn bảo lãnh hôn thê.

USCIS có quyền ra phán quyết từ bỏ yêu cầu phải đáp ứng trong vòng hai năm đó, nhưng luật không cung cấp hướng dẫn rõ ràng về điều đó. Vì lý do đó, khi xin USCIS miễn trừ, luật sư di trú phải dựa vào tiền lệ để xin từ bỏ yêu cầu này.

Tự do kết hôn

Hai người phải có quyền kết hôn với nhau và phải kết hôn với nhau trong vòng 90 ngày sau khi “người thừa kế” được nhận vào Hoa Kỳ. Vì vậy, hai vợ chồng phải chứng minh được việc kết hôn trước đây nếu có thì phải bãi bỏ và không có pháp luật nào ngăn cản việc họ kết hôn với nhau.

Đơn I-129F và bằng chứng cụ thể

Đơn bảo lãnh hôn thê phải được nộp với Mẫu I-129F. Đơn bảo lãnh phải kèm theo ảnh của “người bảo lãnh” và ảnh của “người thụ hưởng”. Ngoài ra, còn có các tài liệu chứng minh hai người:

1-Đã gặp trực tiếp trong vòng 2 năm trước khi nộp đơn.

2- Có ý định kết hôn.

3- Được tự do kết hôn với nhau, chứng minh đã xóa bỏ hôn nhân trước đây (nếu có).

4-Hai người sẽ kết hôn với nhau trong vòng 90 ngày sau khi “người thừa kế” được nhập cảnh.

5-Bản khai của hai người hoặc của những người biết về mối quan hệ tình cảm của hai người, ảnh người đó chụp chung, liên lạc của hai người qua thư từ, email (e-mail), hóa đơn điện thoại, bằng chứng xác nhận. dự tính chẳng hạn như thiệp mời, biên lai đặt cọc cho địa điểm tổ chức đám cưới, hoặc các tài liệu khác.

Trẻ em dưới 21 tuổi của “người thụ hưởng” có thể được hưởng và được cấp thị thực K-2 mà không cần phải nộp đơn bảo lãnh khác.

Sau khi hồ sơ được USCIS chấp thuận, hồ sơ được chuyển đến lãnh sự quán Hoa Kỳ để làm thủ tục phỏng vấn để cấp visa. “Người thụ hưởng” phải hoàn thành Mẫu đơn DS-160 (tức là mẫu đơn xin thị thực có giới hạn) và thu thập các giấy tờ cụ thể nêu trên cùng với hộ chiếu hợp lệ, giấy khai sinh, giấy tờ tài trợ tài chính và chính phủ chứng minh rằng họ không có tiền án.

Nghĩa vụ của tư cách hôn phu

Một đặc điểm của diện hôn phu là khi người được bảo lãnh nhập cảnh vào Hoa Kỳ, người được bảo lãnh phải kết hôn với người bảo lãnh và nộp đơn xin thay đổi tình trạng di trú.

Nếu người được bảo lãnh thay đổi ý định và không kết hôn với người được bảo lãnh, người được bảo lãnh sẽ không thể thay đổi tình trạng nhập cư của mình ngay cả khi anh ta đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ khác hoặc đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ khác. không phải là cha mẹ hoặc anh chị em của người bảo lãnh.

Nếu người được bảo lãnh muốn sống hợp pháp tại Hoa Kỳ, người được bảo lãnh phải trở về nước của họ và chờ một người bảo lãnh khác nộp đơn bảo lãnh.

Trong trường hợp người bảo lãnh thay đổi ý định không kết hôn với người bảo lãnh hoặc đã kết hôn nhưng người bảo lãnh từ chối tiếp tục cho người được bảo lãnh thì người bảo lãnh sẽ không được phép thay đổi tình trạng của mình. Tình trạng di trú cũng giống như trường hợp người được bảo lãnh thay đổi ý định như đã nói ở trên.

Có nhiều trường hợp người được bảo lãnh hoặc người được bảo lãnh thay đổi ý định, người được bảo lãnh kết hôn với một công dân Hoa Kỳ khác và tin rằng họ sẽ có thể thay đổi tình trạng nhập cư của mình với hồ sơ mới.

Sau cuộc phỏng vấn, đơn xin thay đổi tình trạng di trú sẽ bị từ chối và kể từ ngày bị từ chối, người được bảo lãnh trở thành người ở Hoa Kỳ bất hợp pháp.

Nếu người bảo lãnh muốn ở lại Hoa Kỳ một cách hợp pháp, người đó phải trở về bên ngoài Hoa Kỳ và chờ một đơn bảo lãnh mới. Nếu người được bảo trợ ở lại Hoa Kỳ hơn sáu tháng hoặc một năm sau khi đơn bị từ chối và rời Hoa Kỳ, người được bảo lãnh sẽ không thể vào Hoa Kỳ trong ba hoặc 10 năm. (Một khi một người đã ở Hoa Kỳ bất hợp pháp từ 180 ngày trở lên, rời Hoa Kỳ sẽ không được phép tái nhập cảnh Hoa Kỳ trong ba năm tiếp theo. Trong 10 năm tới).

Nếu người nộp đơn vi phạm lệnh cấm ba năm hoặc 10 năm, và nếu họ muốn nhập cảnh Hoa Kỳ trước thời hạn ba năm hoặc 10 năm, phải kiến ​​nghị USCIS từ bỏ quy định đó nếu đủ điều kiện. [qd]

Bản tin Visa

Theo yêu cầu của độc giả, sau đây là bảng thông tin thị thực tháng 8 năm 2021.

Ưu tiên 1 – ngày ưu tiên là ngày 22 tháng 11 năm 2014, có nghĩa là ưu tiên dành cho những người con trên 21 tuổi chưa lập gia đình của công dân Hoa Kỳ.

Ưu tiên 2A – ngày ưu tiên hiện tại, có nghĩa là ưu tiên dành cho vợ / chồng hoặc con chưa lập gia đình dưới 21 tuổi của thường trú nhân.

Ưu tiên 2B – priority date là ngày 22 tháng 9 năm 2015, tức là ưu tiên cho con trên 21 tuổi chưa lập gia đình của thường trú nhân.

Ưu tiên 3 – priority date là ngày 8 tháng 11 năm 2008, tức là ưu tiên dành cho những người con đã lập gia đình của công dân Hoa Kỳ.

Ưu tiên 4 – ngày ưu tiên là ngày 1 tháng 3 năm 2007, có nghĩa là ưu tiên dành cho anh chị em ruột của công dân Hoa Kỳ.

Bạn có thể theo dõi bảng thông tin thị thực hàng tháng của riêng mình tại trang web của Nguyen & Luu Law Group, LLP tại: www.nguyenluu.com

Mọi thắc mắc, vui lòng liên hệ: Luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương hoặc Luật sư Lưu Trọng Cẩm Thượng của Nguyen & Luu Law Group, LLP tại 1120 Roosevelt, Irvine, CA 92620. Điện thoại (949) 878-9888.

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *