Di chứng hậu COVID-19: Hơn 200 triệu chứng ở người lớn lẫn trẻ em

WASHINGTON, DC (NV) – Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết, nhiều bệnh nhân COVID-19 sau khi khỏi bệnh để lại di chứng lâu dài, hay còn gọi là “Long COVID” ở cả người lớn và trẻ em.

Theo BBC, bà Janet Diaz, người đứng đầu Nhóm chăm sóc lâm sàng của WHO trong các trường hợp khẩn cấp, người đứng đầu nghiên cứu “COVID kéo dài” cho biết, đến nay đã ghi nhận hơn 200 triệu chứng liên quan đến di chứng COVID-19. Hầu hết các triệu chứng xảy ra ở người lớn, nhưng điều đó không có nghĩa là trẻ em sẽ không mắc chúng.

Theo nhiều nghiên cứu, trẻ em có thể bị di chứng lâu dài sau COVID-19. (Hình minh họa: Saiba Rahman / Pixabay)

Vì vậy, làm thế nào trẻ em sẽ bị “COVID dài”? Theo WHO, “COVID dài” là một di chứng xảy ra trong vòng khoảng ba tháng kể từ khi nhiễm bệnh với các triệu chứng kéo dài ít nhất hai tháng và không thể giải thích bằng chẩn đoán. Các triệu chứng COVID-19 dai dẳng có thể thay đổi hoặc tái phát theo thời gian. Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu (CDC) cho biết hầu hết trẻ em không có triệu chứng khi bị nhiễm COVID-19, hoặc các triệu chứng rất nhẹ. Nhưng theo nhiều nghiên cứu, trẻ em có thể bị di chứng lâu dài sau COVID-19. Tuy nhiên, trẻ em có xu hướng phục hồi nhanh hơn.

Nghiên cứu cho thấy trẻ em bị nhiễm COVID-19 nhẹ và nặng có thể bị di chứng lâu dài, chẳng hạn như mệt mỏi, đau đầu, khó ngủ, khó tập trung, đau cơ và khớp và ho.

Trong một nghiên cứu của các nhà khoa học Australia trên 2.000 trẻ em và người lớn mắc COVID-19 ở New South Wales, 20% trường hợp có các triệu chứng dai dẳng 30 ngày sau khi nhiễm virus. Đến ngày thứ 90, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 5%. Nhóm tuổi trẻ nhất (0-29 tuổi) có khả năng phục hồi nhanh hơn các nhóm tuổi lớn hơn. Một nghiên cứu khác của Đại học Victoria, Australia, đã kiểm tra dữ liệu của 151 trẻ em bị nhiễm trùng nhẹ, 8% trong số đó có di chứng kéo dài đến tám tuần. Tuy nhiên, tất cả đều hồi phục hoàn toàn sau ba đến sáu tháng.

Theo Webmd, nghiên cứu toàn diện nhất cho đến nay là của King’s College London, Vương quốc Anh, theo dõi dữ liệu ở trẻ em 5-17 tuổi với COVID-19. Trong số 1.734 trẻ, 4,4% bị di chứng 28 ngày sau khi phát bệnh. 1,8% trẻ em bị “COVID kéo dài” vào ngày thứ 56.

Các chuyên gia cũng phát hiện ra rằng trẻ em từ 12 đến 17 tuổi có nhiều khả năng mắc các triệu chứng “COVID kéo dài” hơn so với trẻ em từ 5-11 tuổi. Trẻ có thể gặp các di chứng lâu dài khác như: khó suy nghĩ hoặc tập trung, tức ngực, ho, trầm cảm hoặc lo lắng, tim đập nhanh, đau khớp hoặc cơ, chóng mặt khi đứng lên, mất khứu giác hoặc vị giác, khó thở.

Các triệu chứng cụ thể ở trẻ có thể phụ thuộc vào mức độ của bệnh. Nếu họ yêu cầu điều trị chăm sóc đặc biệt (ICU) hoặc sử dụng máy thở, họ có thể phát triển yếu cơ, mệt mỏi, nhịp tim nhanh và hội chứng “sương mù não”. Đây là tất cả các phản ứng phụ thường gặp ở những người đã ở trong ICU. Ba phần tư số trẻ em có các triệu chứng “COVID kéo dài” cho biết đã hồi phục hoàn toàn. Tuy nhiên, dữ liệu về 1/4 số trẻ em còn lại không có sẵn, vì vậy không rõ có bao nhiêu trẻ em trong nhóm này có thể gặp vấn đề lâu dài hơn.

Mặc dù hiếm và nhẹ, các trường hợp trẻ nhỏ bị “COVID kéo dài” vẫn xảy ra. Một số trẻ bị ho dai dẳng và mệt mỏi kéo dài hàng tháng.

Theo chla.org, Tiến sĩ Aaron E. Glatt, trưởng khoa Bệnh truyền nhiễm tại Mount Sinai South Nassau, New York, cho biết một số triệu chứng sẽ biến mất theo thời gian, nhưng không có phương pháp điều trị cụ thể. với “COVID dài” ở trẻ em. Theo ông, nếu bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, các bác sĩ lâm sàng sẽ cố gắng tìm cách giảm thiểu nó, giúp bệnh nhân đối phó với vấn đề tốt hơn.

Cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm phòng ngay khi có đủ điều kiện. (Hình minh họa: Mohamed Hassan / Pixabay)

“Chúng tôi không có thuốc, kháng thể đơn dòng hoặc bất cứ thứ gì tương tự làm giảm hiệu quả ‘COVID dài.’ Tình trạng này hiện chưa được biết ở người lớn. Vì vậy, nó vẫn là một vấn đề đáng quan tâm ở trẻ em, ”Tiến sĩ Glatt nói.

Các triệu chứng “COVID kéo dài” sẽ cản trở khả năng học tập hoặc hoạt động bình thường của con bạn. Nếu các triệu chứng vẫn tiếp tục sau bốn tuần, cha mẹ nên cân nhắc trao đổi với giáo viên hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về tình trạng của con mình.

Lời khuyên của Tiến sĩ Brad Schlaggar, giám đốc điều hành của Viện Kennedy Krieger, Baltimore, Maryland đưa ra cho các bậc cha mẹ là nên đưa trẻ đi tiêm phòng càng sớm càng tốt. Đồng thời, vẫn cần thực hiện các biện pháp phòng chống lây nhiễm như đeo khẩu trang, tránh xa xã hội, rửa tay thường xuyên và tiêm phòng cúm hàng năm. (Bảo Khôi) [qd]

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *