Mối tình Tàu-Việt qua truyện ngắn ‘Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ’

  • by

Trần Doãn Nho / Tiếng Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Lần đầu tiên tôi biết đến Đoàn Xuân Thu qua lời giới thiệu của nhà văn Lương Thủ Trung về thơ của anh trên trang web “Thất Sơn Châu Đốc”. Tôi cứ tưởng anh làm thơ là chủ yếu, nhưng khi đọc thêm bài về Đoàn Xuân Thu trên trang chủ của Hội Petrus Trương Vĩnh Ký, tôi thấy anh làm thơ nhiều nhưng cũng viết nhiều, nhiều hơn cả thơ.

.

Xe hủ tiếu của bác Phú, bố của Mười. (Hình minh họa: Đan Huỳnh) Văn chương của anh mang đậm chất Nam Bộ, dung dị, hài hước và tinh nghịch. Anh có sở trường biến tất cả những câu chuyện đời thường, chuyện chính trị, chuyện văn học hay những câu chuyện rất nghiêm túc, đàng hoàng, thậm chí là những câu chuyện buồn, rất buồn thành… châm biếm. Điều trớ trêu đó có thể được tìm thấy trong các tiêu đề: “Anh Ba Kha Kha,” “Cơm cói,” Tình, tiền… rách !, ”“ Truyền thông hay Cáo phó ”,“ Nhặt ”,“ Bỏ tám ”

Với chất giọng thật lẫn lộn, giả lẫn thật, những câu chuyện của “người ta” xen lẫn chuyện của “tôi”, anh đã biến thế giới của con người đầy yêu thương và đam mê thành… một nụ cười, một kiểu cười xen lẫn buồn vui, lẫn lộn. , kết hợp tình yêu, kết hợp tình dục… kết hợp và như vậy. Vui mà sâu, vui mà thấm, cười mà khóc.

Một trong những bài báo – một truyện ngắn – sẽ ở lại với tôi mãi mãi là “Chiếc áo bà ba in chữ Hỷ”.

Truyện tái hiện một hình ảnh khá tiêu biểu về cuộc sống của thanh niên miền Nam trong chiến tranh trước 1975: đi học, đi tán gái, đi lính, đi tù, buôn lậu kiếm sống, vượt biên … Mở câu chuyện đầu tư tưng bừng, không cần đi rào rào:

“Khi tôi lần đầu tiên nghe thấy cha của bạn gọi bạn, tôi nghĩ rằng tên của bạn là Mosquito. Tôi trêu cô ấy: ‘Con muỗi này! Đừng châm chích tôi, đau lắm. ‘ Cô bĩu môi, phản bác: ‘Em tên Muội. Mẹ là tôi. Tôi là Muội. ‘ À, vậy! “

Trò đùa ấy mở đầu cho một mối tình, như mọi mối tình trên đời, nhưng ở đây, có gì đó hơi khác một chút: tình Hoa – Việt, hay nói “dân dã” một chút là tình Hán – Việt. Có ngoại hình thường thấy: Cô gái Trung Quốc, chàng trai Việt Nam. Cô ấy tên là Muội. Bố Mười là bác Phú, quê gốc ở Quảng Đông. Tôi không giàu, chỉ “Có một xe bán hủ tiếu, bán đồ ăn sáng dưới hai cây me khổng lồ, trên vỉa hè.” Và anh chàng – nhân vật chính “TÔI” – cũng tội nghiệp, vì nhà đông con mà mẹ. “Có một gian hàng bán cơm tấm gần đó.”

Xem như những người hàng xóm. Năm đó, anh học lớp Một. Hai người quen nhau vì cả hai đều giúp chạy bàn vào chủ nhật. “Tôi giúp cha tôi. Tôi giúp mẹ tôi.” Anh đã tán tỉnh cô, nhưng cô sợ cha mình sẽ phản đối. Vì theo lời cha cô ấy: “Con trai Việt Nam lười lắm, đi chơi đêm, không lo làm ăn. Đừng đánh đổi để lấy bất cứ thứ gì để ăn. Không có gì để ăn, làm sao cưới được. Lấy được vợ thì làm sao lo cho vợ con được ”.

Mặc vào! Anh ta tán tỉnh, cô ta đã yêu. “Cuối năm đó, tôi đậu Tú tài thứ hai. Hai năm xa Mỹ Tho, lên Đại học Cần Thơ, tôi không còn có dịp gặp Mùi mỗi sáng chủ nhật, nói chuyện tào lao xứ Bắc nữa. Nhưng anh hứa khi ra trường, làm giáo viên sẽ hỏi cưới Muội.

“Tôi sẽ có tiền để nuôi Muội, để bố cô ấy không còn chê con trai Việt lười biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm mẹ nấu nữa. Tôi sẽ ăn mì mà Mùi nấu, trừ cơm, vào những ngày mưa. Nhưng rồi mọi thứ đã thay đổi.

“Ta không đợi được ngươi, ngược lại là ngươi phải đợi ta. Đã đợi ta cả đời thiếu nữ.”

Mùa hè năm 72 đỏ lửa. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin tức về chiến tranh tràn ngập các mặt báo. Ra trường, nhưng thay vì đi làm, anh phải nhập ngũ theo lệnh tổng động viên. “Tôi rời Trường Bộ Binh Thủ Đức và trở về TQLC. Sư đoàn là tổng dự bị động viên nên tôi lội bộ khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre đến Thừa Thiên, Quảng Trị ”. Anh viết cho cô một bức thư bảo cô hãy đợi. Và cô ấy hứa sẽ đợi, “Dù trời có sập.” Nhưng không may, trong một trận đánh lớn, anh bị giẫm phải mìn và bị thương. Cô đến thăm bệnh viện.

“Tôi sợ mình chết, tôi khóc. Khóc cho ước mơ Em muốn làm cô giáo bán chữ để nuôi Muội; Anh bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm ngày mưa mà bán không được ”.

Mỗi đám mây có một lớp lót bạc. Nhờ chấn thương nên trong thời gian ra viện chờ giám định y khoa, cả hai có dịp đi chơi cùng nhau. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời anh.

“Tôi hỏi Muội: ‘Tiếng Quảng Đông có gì đẹp?’ Mui noi: ‘Ho len. Yêu là phải nôn ‘. Sau đó ‘Nu hu len; buồn nôn. ‘ Em thẹn thùng, má ửng hồng ”.

Anh đưa cô đi chợ và mua cho người tình của cô một xấp đồ thổ cẩm Thượng Hải có in chữ Trung Quốc.

“Tôi hỏi: ‘Từ tiếng Trung đó có nghĩa là gì?’

Mùi nói: ‘Đó là từ hi. Hi là vui. Loại vải này để người ta may váy cưới. ‘

Tôi hỏi: ‘Bạn muốn màu gì?’

‘Màu đỏ thật là may mắn! Con xin Trời, Phật cho con đi đánh giặc bình yên, dẹp xong chiến tranh, con hãy về với con. ‘

Tôi nói: ‘Dừng lại! Đời mình xui quá, muốn bán chữ mà không được, mới đi lính được một năm mà bị thương rồi, may mà hỏng hết rồi ”.

Nói vậy nhưng anh đã chọn vải áo sơ mi màu xanh nõn chuối và may cho cô một chiếc áo. Cặp đôi hạnh phúc chờ ngày cưới.

Áo bà ba, Mùi tình. (Hình minh họa: Phat Truong / Unsplash)

Nhưng, một lần nữa, cuộc đời đã không có lợi cho họ. Vết thương không nặng nên anh phải ở lại hậu phương. Sau khi lành bệnh, anh phải trở về đơn vị của mình và tiếp tục chiến đấu với Cộng quân trên chiến trường cho đến ngày chiến tranh kết thúc. Là một sĩ quan của một đơn vị chiến đấu, ông đã phải ngồi tù 5 năm. Và khi tôi trở về nhà “Nhạt nhòa như một chiếc áo rách.” Giống như tất cả các sĩ quan miền Nam Việt Nam, anh ta ra khỏi một nhà tù nhỏ và vào một nhà tù lớn hơn.

“Tôi chỉ có lời chứ giờ không ai mua. Chế độ này không cần văn bản. Khi tôi đến trình báo, anh công an phường già lẩm bẩm lệnh trả tự do cho tôi mà nước miếng ứa ra khóe miệng. Chế độ này cần có nền. Và sơ yếu lý lịch của tôi đứng thứ 15, nghĩa là dưới cùng, dưới cùng của xã hội, tôi có thể làm gì bây giờ? ” Anh ta tránh gặp Mùi, người yêu cũ của anh ta, không phải vì cảm giác tội lỗi, mà là “Chỉ vì tôi không muốn trở thành gánh nặng cho Mẹ.”

Anh buôn lậu dầu dừa để kiếm sống. Một buổi chiều, anh tình cờ gặp bố cô, chú Phú. Anh chở chú về nhà, được thết đãi mì và đồ nhậu. “Bát phở bác Phú vừa nấu cũng chịu chung số phận bi đát theo số phận đất nước, chỉ có nước dùng, sợi bánh và những lát thịt mỏng như tờ giấy”. Ăn xong, trong cơn say, chú Phú đi vào trong, lấy ra một chiếc túi ni lông đưa cho anh và nói: “Con trai! Nó đã được gửi cho cô ấy. Con trai của tôi! Huh! Nó chết rồi! Tôi biết nó thân yêu. Khi cô ấy vào tù, anh ấy nói đợi cô ấy ra tù, anh ấy sẽ bán mì để nuôi cô ấy. Nhưng không thể được! Họ đánh chúng tôi để ăn và sau đó họ giành chiến thắng, đánh nhau. Thật tệ khi biết! Kết thúc Pol Pot, Mở rộng Bắc Kinh, sau đó là Niết bàn ”.

Sợ bị đuổi về Trung Quốc, chú Phú cho chị vượt biên. Đêm trước khi đi, cô nhờ bố giữ bọc ni lông để đưa cho anh.

“Tàu ra khỏi cửa phải mất ba ngày đêm thì máy bơm dầu bị hỏng, nổ máy, trôi dạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nhưng không ai đón. Ba tuần lang thang trên biển, quá tuyệt vọng, một số người trên thuyền đã gom quần áo, giày dép rồi đốt. Cuối cùng con tàu buôn tội nghiệp cũng dừng lại và thả thang dây xuống. Ba tuần lênh đênh trên biển, nghĩ đi nghĩ lại, chẳng còn sức mà leo nữa. Nó đá và rơi xuống biển. Chết chìm. Huh Huh.” Kể xong,

“Bác Phú không còn nước mắt để khóc nữa, chỉ biết gào thét hu hu, tiếng kêu của một con vật bị trọng thương, bị so sánh như một con đường cụt, không có lối thoát.” Anh mở bọc nhựa. Hóa ra, nó là

“Chiếc áo bà ba in chữ phúc ngày xưa anh may cho em. Mẹ ơi! “

“Áo bà ba in chữ Hỷ” đơn giản, ghi lại một tình yêu cũng đơn giản. Không có gì thất thường; không khóc một cách cay đắng. Nhưng đó vẫn là một tình yêu lớn, một tình yêu mang đậm hương vị thời đại. Riêng tư nhưng rất chung chung. Trước và sau năm 1975, có thể có hàng nghìn, thậm chí hàng vạn mối tình dang dở như vậy. Truyện này còn có một chi tiết ý nghĩa hơn: Cô gái Trung Quốc mê trai Việt Nam. Mặc dù tác giả, bằng giọng văn trào phúng vốn có của mình, không tìm cách làm “bi kịch hóa” câu chuyện tình yêu nhưng cuối cùng, bi kịch vẫn không thể tránh khỏi. [qd]

“Mẹ! Cơ thể của tôi bây giờ ở đâu? Trôi vào đất Thái hoặc sang Indonesia. Áo bà ba, Mùi tình, biển tím. Tình còn đây, trời đày ta mất nhau. Tôi không khóc được nữa, nước mắt tôi đã khô từ lâu. Miệng thì nhếch mép như thái dương, mắt chớp chớp, mặt mày nhăn nhó, giật mình. Mẹ ơi! Em sẽ mang chiếc áo bà ba có hình hạnh phúc của chúng ta ra biển! ” Ghi chú:



https://petruskyaus.net/tho-van-doan-xuan-thu

Đoàn Xuân Thu sinh năm 1951, tại Mỹ Tho. Thuở nhỏ theo học trường Pétrus Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), sau vào Đại học Sư phạm Cần Thơ, sau đó dạy học và phục vụ trong quân đội. Cha anh là nhà văn Doãn Hùng Việt, có tác phẩm từng đăng trên Tiếng Đời, Nhân gian, Bông lúa và là bạn thân của nhà văn Sơn Nam. Hiện đang định cư tại Úc và cộng tác với nhiều báo và tạp chí hải ngoại.

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *