Nhà thơ Phạm Cao Hoàng với các bạn văn ngày ấy

Trần Yên Hòa

ANAHEIM, California (NV) – Những năm gần đây, khi các tạp chí văn học (báo giấy) lần lượt bị ngừng xuất bản do khó khăn về tài chính, tiền in tăng, độc giả giảm, chưa có hệ thống phát hành rộng khắp, Thư Quán Mãn Thảo do nhà văn Trần Hoài Thu chủ trương, một tạp chí hai tháng một lần, được gửi như một món quà (không) cho độc giả, vẫn lặng lẽ tồn tại.

Phác thảo chân dung Phạm Cao Hoàng năm 2010. (Tranh: Đinh Cường)

Trong số sách (thơ, truyện ngắn) của Thư An Quân đã xuất bản, tôi nhận được tập “Mây quê hương” của Phạm Cao Hoàng do tác giả tặng.

Phạm Cao Hoàng xuất hiện trong thơ ca miền Nam trước 1975.

Trước đây, tôi không có cơ hội đọc nhiều, có lẽ chỉ hai ba bài thơ, nhưng cảm giác ngày đó, ba bốn chục năm trước và bây giờ, khi cầm trên tay tập “Mây và khói quê hương” của Phạm. Cao Hoàng, tôi không thấy khác biệt lắm, tôi vẫn còn cảm xúc khi đọc (nhiều) bài thơ hay.

Ví dụ như bài hát “Nhớ về hoa cúc” này:

“Vùng đất tôi sống và khu rừng tôi thở
Tôi đi vào buổi sáng và trở lại vào buổi chiều
Khu rừng bay bổng vào những đêm đầy gió
bóng của bạn chìm xuống như bóng của hư vô

Đôi khi đứng bên tảng đá
Tôi sợ rằng ngọn núi sẽ đè bẹp tôi
đôi khi nhìn thấy một con chồn cáo
Anh hoảng sợ giật mình quay lại

Tôi đã đi qua khu rừng rất cao
Tôi đi rừng quá cao
Tôi thu mình lại như một con sâu nhỏ
nằm giữa những chiếc lá xào xạc

Và buồn thay, những buổi chiều yên ả
ngọn núi và bạn trở thành hai người trầm ngâm
Núi nhìn tôi và tôi nhìn núi
Núi chạm trời, anh chạm vào nỗi đau

Vùng đất tôi sống và khu rừng tôi thở
Lâu quá rồi nên em hoang mang quá
Tôi chết một nửa và tôi chết một nửa
giữa núi rừng sừng sững hơn ngàn năm ”.

Theo tiểu sử tóm tắt của mình, Phạm Cao Hoàng chỉ là giảng dạy. Nhưng đoạn thơ trên lại có một mùi rất lạ, hơi hướm của người lính hành quân qua núi, vượt đèo, vượt suối. Tâm trạng của người trong cuộc, luôn bị ám ảnh bởi nỗi buồn, nỗi buồn của sự nhỏ bé khi đứng trước núi cao, nỗi buồn ấy khiến người trong cuộc như thu mình lại như một “con sâu nhỏ, nằm trơ trọi giữa đám lá xào xạc. Đứng trước núi, tác giả cảm thấy một nỗi buồn man mác.

Có lẽ thể thơ bảy chữ, tám chữ được anh sử dụng rất nhiều trong suốt tập thơ, làm tôi phấn khích, vì tôi cũng thích thể thơ này.

Tuyển tập thơ “Mây Quê Hương” của Phạm Cao Hoàng do Thư An Quán xuất bản. (Hình ảnh: Phạm Cao Hoàng)

Những người bạn cũ (trước 1975)

Dưới đây là một vài đoạn văn ngắn mà Phạm Cao Hoàng viết về những ngày còn trẻ của mình:

“Với Quy Nhơn.

Căn nhà chúng tôi thuê nằm cuối đường Nguyễn Thái Học, thuộc khu 6, Quy Nhơn. Đây là điểm hẹn thường xuyên của chúng tôi: Trần Hoài Thu, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Huy Hoàng, Hoàng Ngọc Châu, Lê Văn Trung, Phạm Cao Hoàng…

Nguyễn Phương Loan sống trên đỉnh Pleiku, thỉnh thoảng ghé qua. Trần Hoài Thu, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Huy Hoàng đi đầu, cuối tuần thường chỉ về. Hoàng Ngọc Châu có nhà ở dưới phố. Lê Văn Trung sống với anh chị em ở khu 2. Tôi là trụ trì.

Nói là nhà nhưng thực ra chỉ là một căn phòng không lớn lắm, đủ chỗ cho một hai người, tuy nhiên khi cần thiết thì mười người cũng không sao. Cuối tuần, tôi và Lê Văn Trung lần mò xem có ai từ mặt trận về chưa?

Mỗi người một cái. Anh Nguyễn Huy Hoàng ân cần, chu đáo. Phạm Văn Nhân vui vẻ, cởi mở. Trần Hoài Thư lang thang, bất cần đời. Hoàng Ngọc Châu từ tốn. Lê Văn Trung trầm, ít nói. Cửa phòng không có khóa vì chúng tôi không có gì để mất. Bên trong chỉ có vài ký gạo và vài bộ quần áo. Ai đến thì cứ tự nhiên vào, ăn gì thì nghỉ và viết. Ai muốn viết gì thì viết, muốn đăng thì cứ đăng. Người viết mạnh nhất là Trần Hoài Thu. Anh ấy viết rất dễ dàng, viết ở bất cứ đâu, ngay cả ở những nơi ồn ào…

Vậy mà chúng tôi yêu nhau nhiều như vậy. Gặp nhau lúc nào cũng vui, và chúng tôi chưa bao giờ có bất đồng quan điểm nào. Năm 1968, trận chiến càng trở nên ác liệt. Tôi và anh Trung rất lo lắng cho các em ở tiền tuyến. May mắn thay, tất cả các anh đều trở về, trừ em Nguyễn Phương Loan đã mãi mãi nằm lại với núi rừng Plây Me.

Năm 1969, chúng tôi mỗi người một ngả. Tôi đi Phan Thiết, Lê Văn Trung đi Quảng Ngãi. Hoàng Ngọc Châu đến Bảo Lộc. Trần Hoài Thư, Nguyễn Huy Hoàng, Phạm Văn Nhân trôi dạt từ chiến trường này sang chiến trường khác. Hồi đó không có điện thoại di động nên đã có lúc lạc mất nhau. Rồi Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Huy Hoàng lâm bệnh nặng, Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhân sang Mỹ. Lê Văn Trung ở tù rồi làm công nhân xây dựng…

Với Tuy Hòa.

Tuy Hòa là thành phố biển nằm giữa Nha Trang và Quy Nhơn, nằm bên bờ sông Đà Rằng, dưới chân núi Nhạn. Người Tuy Hòa hiền lành, mến khách, đặc biệt rất yêu thơ.

Đến đây, tôi có dịp làm việc với các nhà văn Tuy Hòa và tham gia các hoạt động văn học nghệ thuật của thành phố dễ thương này.

Người tôi gặp nhiều nhất là anh Trần Huệ Ân, tác giả của tập thơ ‘Thuyền Tây’, nổi tiếng với những vần thơ mang đậm màu sắc quê hương … Một người luôn sát cánh bên Trần Huệ Ân và tôi là Đỗ Chu. Thắng, tác giả của ‘Chân trời cũ.’ Đỗ Chu Thăng là một giáo sư toán giỏi, nổi tiếng là một người thầy nghiêm khắc với học trò. Ngoài đời, ông là một nhà thơ hiền lành và khiêm tốn, được nhiều người yêu mến và kính trọng …

Hình như chiều nào tôi cũng gặp anh Phạm Ngọc Lư, người Huế, sau khi tốt nghiệp sư phạm vào Tuy Hòa dạy học.

Một gương mặt rất thân với tôi là Mang Viễn Long, quê Bình Định, vào Tuy Hòa dạy học.

Tuy Hòa là nơi sản sinh ra nhiều tác giả truyện ngắn xuất sắc, một trong số đó là Nguyễn Lệ Uyên. Tuy Hòa cũng có nhà thơ nổi tiếng từ rất sớm là Hoàng Đình Huy Quân, tác giả của tập thơ Mở cửa, khi chưa đầy 20 tuổi Hoàng Đình Huy Quân đã có mặt trong ban biên tập tạp chí Văn học. tại Sài Gòn.

Nhắc đến mỹ thuật Tuy Hòa không thể không nhắc đến Nguyễn Song Ba, Khánh Linh, Triệu Hanh, Phan Bá Chúc, Nguyễn Tường Vân. Bên cạnh đó, nhiều nhà văn địa phương khác cũng ghé qua để Tuy Hòa ấm hơn theo thời gian như Trần Hoài Thư, Lê Văn Nhân, Lê Văn Trung, Tạ Chí Đại Trường, Đỗ Toàn, Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Sa Mạc, Lê Kỳ Thuong, Huynh Huu Vo, Tran Van Gia, Nguyen Minh, Vo Tan Khanh… ”

Tôi đã đọc trên Thư Quán những câu chuyện của những người bạn văn nghệ sống trước năm 1975. Lúc đó chúng tôi còn rất trẻ, đôi mươi.

Phạm Cao Hoàng 2020. (Ảnh: Cúc Hoa)

Tôi cũng rất vui khi đọc (lại) những bài thơ của Phạm Cao Hoàng trong “Mây Quê Hương”. Tất nhiên là những bài thơ cũ, nhưng đối với tôi, đó là một vẻ đẹp rất mới, chẳng hạn như: “Bạch tiên sinh em ở ngã tư đường”:

“Tay chưa vẫy nhưng lòng đã rưng rưng
ai đã tiễn tôi vào đầu mùa thu
cảm ơn cô gái
được rồi, tạm biệt, xe lăn trong bụi

Trong phút đó tại sao bạn không nói
Ngay cả một từ cũng đủ để tách rời nhau
Và điều gì là buồn trong mắt bạn?
Tôi hơi ngại và tôi sẽ quay lại sớm

Hình như gió thổi qua màu áo
Tóc người che trời buồn
chiếc xe lăn tôi đã khóc thầm
Mãi lâu sau tim mới thấy đau.

Người đã tiễn tôi vào một buổi sáng mùa thu
hình chiếc lá vàng như một dáng người duyên dáng
con đường xa hàng ngàn dặm
tàn nhẫn không thể tin được

Tôi đã lạnh giá nên tôi không biết
Con đường nào có lá me?
Dấu chân bạn in trên con đường nào?
tình yêu buồn giữa mùa thu

Mọi người cũng hiểu cuộc sống của một người đàn ông đã chết
không có gì ngoài một cuộc sống buồn
Mùa thu đã qua, mùa thu đang đến
Tôi cô đơn và tôi vẫn cô đơn

Mọi người cũng thấy rằng áo của tôi không đủ ấm
Chưa ba mươi mà tóc đã bạc trắng đời người.
những ngày lạnh và lạnh
Tôi đã bị điên trong vài năm nay

Đôi khi tôi nghĩ cuộc sống thật kỳ lạ
Tôi cũng có một người nào đó để đưa tôi đi
Tôi cũng có một cô gái trông giống như một
Nắm tay nhau khóc giữa tình yêu bị phản bội

Đó là lý do tại sao cảm ơn bạn, anh bạn
xe lăn là sự khác biệt ngàn lần
xe lăn và bụi, thời tiết mưa bão
tóc người bay trong không khí. “

Đọc thơ Phạm Cao Hoàng và những ngày tháng tuổi trẻ cùng những người bạn văn nghệ ở Tuy Hòa, Quy Nhơn, tôi như được bao bọc bởi hương thơm của tình bạn và tình yêu.

Vậy tôi (cũng) xin ghi lại đoạn thơ trong bài thơ “Ngày mai còn bao giờ” của Nguyễn Bắc Sơn viết về tình bạn ấy:

“Đôi khi tôi nghĩ rằng tôi được sinh ra một mình
Vì một dòng nước bẩn và khuấy động đám đông
Nhưng tôi nghĩ Chúa đã sinh ra nhiều bạn hơn
Để sưởi ấm vai áo lang thang. “ (Trần Yên Hoa) [qd]

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Tags:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *