Tác phẩm mới của Nguyễn Thị Thanh Bình về ngày 30 Tháng Tư

Trần Doãn Nho / Tiếng Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Được thực hiện trong thời gian chín năm, từ 2012 đến 2021, “Suy nghĩ về ngày 30 tháng 4” là một cuộc phỏng vấn, nhưng không chỉ là một cuộc phỏng vấn; khoảng một ngày nhưng không chỉ một ngày; chính trị nhưng không chỉ chính trị.

Bản thân những câu hỏi không chỉ là những câu hỏi mà còn là những day dứt. Đọc các câu hỏi như thể đọc mối quan tâm của chính bạn.

Bìa trước và bìa sau của “Suy nghĩ về ngày 30 tháng 4”. (Hình ảnh: Trần Doãn Nho)

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, người thực hiện không chỉ đi tìm câu trả lời cho một vấn đề, mà còn muốn chia sẻ nỗi lòng, nỗi lo của những người còn trăn trở về vận mệnh đất nước.

Cô hỏi người nhưng cũng hỏi chính mình. Cô viết: “Nghĩ hay nhớ là những suy nghĩ, hồi ức không thể rửa sạch hay xóa bỏ được. Đặc biệt là vì chúng ta không thể yên tâm rằng lịch sử vụn nát đang trở nên tội lỗi hơn từng ngày. (…) 46 năm nhìn lại với tôi vẫn là một chặng đường sa sút thê thảm: tước đoạt mọi sự thiếu thốn, lòng tham trên dưới, mưu phản khôn tả ”.

Bao gồm trong tập hơn 400 trang này, là các biên tập viên, nhà văn và nhà thơ thuộc các thế hệ khác nhau:

-Ngọc sinh: Hoàng Hùng, Nguyễn Viện, Nhã Thuyên, Tạ Duy Anh, Liễu Thái, Lưu Trọng Văn, Nguyễn Tấn Cư.

-Ngoài ra: Bắc Phong, Chấn Phương, Đặng Phùng Quân, Đặng Thọ Thọ, Đinh Từ Bích Thủy, Hoài Ziang Duy, Hoàng Chính, Hoàng Vi Kha, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Đình Nghiêm, Lê Xuân Khoa, Lưu Nguyên Đạt, Ngọ Nguyễn Dũng, Nguyễn Gia Kiểng, Nguyễn Hoàng Vân, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Tôn Hiệt (Hoàng Ngọc Tuấn), Phùng Nguyên, Phan Xuân Sinh, Sông Thao, Sơn Tùng, Tạ Duy Anh, Thân Nhiên, Trần Đoàn Nho, Tran Mong Tu, Tran Trung Dao, Tran Vu, Truong Vu, Uyen Thao.

Yêu cầu tác giả trả lời từng câu hỏi của người phỏng vấn. Một số tác giả thay vì hồi âm đã gửi bút tích, ghi lại những kỷ niệm khó quên vào thời điểm Sài Gòn thất thủ. Chẳng hạn, nhà văn Sông Thao có hai bút ký rất sinh động là “Viết về ngày 30/4” và “Tháng 4 nghĩ về sách báo Sài Gòn xưa” với nhiều hình ảnh quý hiếm ghi lại cuộc vận động đốt sách của gia đình. Cộng sản cai trị sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; Một số tác giả như Chân Phương, Nguyễn Tấn Cư, Trần Mộng Tú, Nguyễn Tôn Hiệt (Hoàng Ngọc-Tuấn)… đã gửi thơ. Một số tác giả khác gửi bài hoặc viết câu trả lời thành bài văn như Lê Xuân Khoa, Trần Doãn Nho, Trường Vũ …

Nhìn chung, là những người hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, các tác giả bày tỏ ý kiến, suy nghĩ của mình một cách thẳng thắn, chân thực về sự kiện 30 tháng 4 và qua đó, về sự kiện 30 tháng 4 của đất nước.

“Suy nghĩ về ngày 30 tháng 4” có thể coi là một tập Văn chính luận lịch sử nhiều màu sắc, đa dạng và nhiều chiều. Dưới đây là một vài nhận xét tiêu biểu của một số tác giả mà tôi đã xem qua khi đọc qua toàn bộ tập sách.

Nhà văn Chân Phương (1951-2020) cho rằng đối với ông, “Ngày 30 tháng 4 năm 1975 có một ý nghĩa tôn giáo rất gần gũi: đó là Ngày Phán xét của lịch sử đối với tất cả những người Việt Nam có ý thức. như người dân miền Bắc phải suy nghĩ lại về Chiến thắng tàn khốc ”. Tại sao? Bởi vì “ngày 30 tháng 4 năm 1975 trên đất nước đều trùng lặp, các nhà thầu xây dựng hình chữ S vẫn tiếp tục bóp nghẹt cổ người dân, dù sống hay chết”.

Nhà văn Hoàng Chính (Canada) đã không ngần ngại đặt cho ngày này một cái tên khác: “Hãy gọi ngày 30 tháng Tư là Ngày Đệ Nhất Miền Bắc thống trị lần thứ ba”.

Nhà văn Nguyễn Viện (Sài Gòn) ghi lại một cách sinh động những hình ảnh và cảm xúc của mình về ngày 30 tháng 4 ở Sài Gòn: “Chiến sĩ giải phóng, là người chiến thắng, nhưng không coi đó là điều hiển nhiên. anh hùng. ”(…)“ Họ cũng nhếch nhác, một số để ngực trần và chỉ mặc một chiếc quần đùi. (…) Nhìn họ tôi cũng nể. (…) “Khủng khiếp nhất, có lẽ là những người ‘thời đại’ nhất, họ bắt chước giọng nói, cách nói của các quan chức. Lúc đó, nói thật, tôi không thể không cho những người đó ‘ người đương thời khinh bỉ. Bây giờ tôi mới thấy buồn cười. Cuộc cách mạng “long trời lở đất” đã nhanh chóng đưa cả nước vào cảnh đói nghèo, kiệt quệ bởi sự phi lý và phản văn minh của nó. Đó là cái giá phải trả rất đắt ”.

Nhà văn Trường Vũ (Mỹ) cho rằng “Thật khó tìm được tên chung” cho ngày 30 tháng 4. Hơn nữa, ý nghĩa của nó cũng thay đổi theo thời gian. “Ngày nay, chủ nghĩa Cộng sản đã bị đánh bại và đã làm tan nát trái tim của những người cán bộ mà cả tuổi thanh xuân của họ đã sống chết cho lý tưởng Cộng sản. Nhưng những phức tạp nảy sinh từ thất bại lớn đó là rất nhiều và khó lường ”. Theo ông, một đặc điểm của sự phức tạp đó là “Khả năng chúng ta nhìn thấy hàng ngày trên đường phố Sài Gòn hay Hà Nội, thông qua cách mọi người lái xe ô tô của họ. Khả năng ‘Lách.’ Những người có quyền lực, hãy né tránh đường lối của kẻ cường quyền, dù nhân danh giai cấp vô sản để sống như tư bản, để họ vẫn có thể cướp bóc, được hưởng đầy đủ và vẫn có quyền. Những người bình thường, hãy né để tồn tại, để có thu nhập cao hơn, để có cuộc sống tốt hơn mà không cần đụng chạm đến ai ”.

Trong khi đó, hai nhà văn, một trong nước và một ở nước ngoài, một sống ở miền Bắc và một ở miền Nam, đều rất trẻ về ngày lịch sử đó, cho biết họ có những cảm xúc rất khác nhau:

Nhà văn Tạ Duy Anh (Hà Nội): Tôi ghét nói dối, ghét những kẻ cơ hội muốn lợi dụng tình cảm của đôi bên khi nói ra sự thật về tình cảm của mình trong ngày 30 tháng 4. Với tôi, đó là một ngày không ngủ được. bởi vì cảm xúc quá mãnh liệt. Phấn khích đến tột cùng (…) Nhưng cũng phải mừng vì thoát cảnh phải cầm súng ra trận. Lúc đó tôi mới 16 tuổi, nếu chiến tranh kéo dài thêm hai năm nữa, không biết có ngày nào được ngồi lại tâm sự với anh như thế này không? Chiến tranh chắc chắn là sự kiện khủng khiếp nhất, nhưng thực tế đói khát, tăm tối và tước đoạt tự do cũng kinh hoàng không kém. Những điều đó đã làm nên cuộc sống của tôi như ngày hôm nay. Cầm bút nước mắt không dứt về vận mệnh đất nước ”.

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình. (Ảnh: Nguyễn Thị Thanh Bình)

Nhà văn Thân Nhiên (Mỹ): “Năm đó tôi 13 tuổi. Thành thật mà nói, tôi không hề có cảm giác hụt ​​hẫng, bàng hoàng khi nghe đài phát thanh cùng với bố và chú của tôi, ông Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng. Thậm chí, ngược lại, tôi thở phào nhẹ nhõm, một chút vui mừng, nghĩ rằng mình và gia đình đã thoát chết, chiến tranh qua đi, thế là hòa bình rồi, không đi lính mà chết trận (. ..) Thiệt hại chỉ bắt đầu vài tháng sau đó. ” (…) “Tôi nghĩ họ – những người lính Bắc Việt sáng hôm đó – là những người may mắn sống sót sau một cuộc chiến ngu ngốc do các nhà lãnh đạo Cộng sản đẫm máu dẫn đầu, theo Nga. hoặc theo Tàu phản quốc. Và những người lính của Liên minh miền Nam là những người đàn ông trẻ tuổi kém may mắn, ngay cả khi sống sót, trong một cuộc chiến do một đồng minh không trung thành quyết định, và chính phủ của họ đã bị tàn phá bởi tham nhũng ”.

Nhà văn Đặng Thơ Thơ (Mỹ), lúc đó còn rất trẻ (13 tuổi), phân tích ngày 30 tháng Tư là một nỗi ám ảnh triết học: “Thế giới sau ngày 30 tháng Tư không ai biết đến. Ngày 30 tháng 4 sẽ còn kéo dài rất lâu, rất lâu sau đó, qua hàng chục năm. Nếu chúng ta sống đến một trăm tuổi, nó cũng sẽ kéo dài hàng thế kỷ. Nó đi theo trí nhớ của con người ”. (…) “Ngày 30 tháng Tư là một thời gian kéo dài đau đớn, một căn bệnh di căn lây lan tàn khốc.” (…) “Ngày 30 tháng Tư là một căn bệnh ung thư tồi tệ nhất.”

Nhà thơ Hoàng Hưng (Sài Gòn) kể lại một sự kiện khó tin: “Một hai ngày sau 30-4-1975, có một cuộc mít tinh chào mừng lớn, trước Nhà hát lớn Hà Nội. Tất nhiên, tôi phải tham dự cùng cả cơ quan tôi làm việc (lúc đó tôi làm việc cho báo Nhà giáo Nhân dân của Bộ Giáo dục). Đồng chí Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Chính phủ) phát biểu khai mạc. Khi ông nhấn mạnh tuyên bố ‘cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước hoàn toàn thắng lợi’ và dừng lại để mọi người vỗ tay như thường lệ, thì … tất cả im lặng. Vài giây sau, đợi không thấy ai phản hồi, anh chàng phải tự ‘vỗ tay’, rồi mọi người phải bắt chước theo. Trong khi đó, tôi than thở với chính mình: ‘Vậy là hy vọng cuối cùng về Tự do cho Việt Nam đã mất.’ “

Cuối cùng, đây là hai câu nói mà tôi cho là ấn tượng nhất:

Khi được hỏi về nhiệm vụ của người cầm bút, nhà văn Nguyễn Hưng Quốc (Úc) trả lời: “Nhiệm vụ của người cầm bút là không được băng bó vết thương, bất kể loại vết thương nào. (…) Theo tôi, nhiệm vụ của người cầm bút là băng bó vết thương. Những vết thương đó. Để nó chảy máu nhiều hơn, mưng mủ hơn, đau đớn hơn. Và không bao giờ lành. Không ai quên được chiến tranh. Không ai có thể quên được bạo quyền. Không ai có thể quên được máu và nước mắt đã đổ ra. “

Hỏi về bài thơ rất nổi tiếng “Nhìn từ xa… Tổ quốc” của Nguyễn Duy, nhà văn Trần Vũ (Mỹ) dứt khoát: “Không. Không phải như Nguyễn Duy viết: ‘Bên nào thắng, nhân dân thua’. Chính phe Độc tài thắng thì dân sẽ thua ”. [qd]


Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình sinh ra tại Huế, định cư tại Hoa Kỳ năm 1975. Nguyên trợ lý chủ bút Nguyệt San Non Nước, đồng chủ bút tạp chí Gió Văn với nhà văn Hàn Song Tường và giáo sư Đặng Phùng Quán.

Cô đã cộng tác với nhiều tạp chí văn học trong và ngoài nước cũng như tham gia nhiều tuyển tập thơ, văn ở nước ngoài.

Cô đã xuất bản nhiều tác phẩm: tuyển tập truyện ngắn, truyện dài, thơ, dịch, trong số đó có “In This Life” (tập truyện), “Giọt nước mắt” (tiểu thuyết), “Escape Into Sleep” Dreaming of You ”( thơ), “Dấu ấn” (tập truyện), “Thần không biết yêu” (tập truyện)…

“Những suy nghĩ cho ngày 30 tháng 4” hiện đã có trên Amazon: www.amazon.com/Books-Le-Nguyen-Binh/s?rh=n%3A283155%2Cp_27%3ALe+Nguyen+Binh


————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Tags:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *