Tam Quốc Chí và phong trào dịch truyện Tàu ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20

  • by

Giáo sư Trần Văn Chi

Sự phát triển của đô thị kiểu Pháp ở Nam Kỳ, với sự xuất hiện của tờ Gia Định báo, và sau đó là hàng loạt tờ báo khác xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 cùng với sự ra đời của nhà in và sự phát triển của báo in. Ngành xuất bản tạo ra nhiều thay đổi trong đời sống “văn hóa đọc”.

Nhà hát Lớn, một công trình kiến ​​trúc nổi tiếng ở Sài Gòn đầu thế kỷ 20. (Hình minh họa: httlvn.org)

Hệ thống trường học Pháp – Việt ra đời sớm. Kiến thức được dạy chủ yếu qua tiếng Pháp và tiếng Latinh, góp phần tạo ra nhiều thế hệ người học tiếp xúc với văn minh phương Tây, từ đó hình thành một lớp người mới có thị hiếu thẩm mỹ.

Sau đó, họ trở thành những nhà văn và độc giả của nền văn học đang trên đà hiện đại hóa.

Xu hướng dịch tiểu thuyết Trung Quốc sang quốc ngữ

Trước khi có bản dịch chữ quốc ngữ, các nhà văn Việt Nam đã tiếp thu tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc để viết Hoàng Lê Nhất Thống Chí và Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí.

Đầu thế kỷ 20, phong trào dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc diễn ra sôi nổi và ảnh hưởng không nhỏ đến giới sáng tác.

Nam Kỳ là vùng đất mới, văn học ở đây là văn học trẻ, đang trong quá trình sáng tạo. Điều kiện phục dựng văn học theo mô hình hiện đại đã xuất hiện khá sớm ở đây.

Sự hiện diện của người Pháp, đầu tiên là quân đội và sau đó là văn hóa của họ, đã khiến Nam Kỳ tiếp xúc sớm với văn hóa phương Tây trên quy mô và mức độ rộng rãi và sâu sắc.
Văn học trẻ Nam Kỳ lúc bấy giờ đang trong quá trình sáng tạo và chưa thực sự hoàn chỉnh, thành phần chưa đồng đều, người viết chắc chắn chưa nhiều và chưa có nhiều kinh nghiệm sáng tác để đáp ứng nhu cầu. của lớp độc giả mới.

Điều đó đã tạo ra một khoảng trống văn học vào đầu thế kỷ 20. Dịch thuật là một cách để lấp đầy khoảng trống đó.

Dịch tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và văn học dân gian gọi là truyện Trung Quốc.
Tác phẩm được dịch sớm nhất ở Nam Kỳ được ghi nhận là Tam Quốc Chí với tên gọi Tam Quốc Chí Tục Dịch đăng trên báo Nông Cổ Mín Đàm từ số đầu tiên ra ngày 1 tháng 8 năm 1901 đến số 8, ra ngày 19 tháng 9 năm 1901. , bắt đầu in với tên người dịch là Canavaggio.

Làn sóng lý giải bắt đầu diễn ra mạnh mẽ, sau sự xuất hiện của “Tam Quốc Chí Tục Dịch”.
Những tiểu thuyết lịch sử hay nhất của Trung Quốc hầu hết được dịch trong những năm đầu của phong trào bao gồm: Chuyện về Nhạc Phi (1905), Thủy Hử Yanyi (1906), Feng Chen Yanyi (1906), và Đông Châu Liệt. Quốc (1906), Nghịch Dương Diễn Nghĩa (1906), Tiết Định San Chính Tây (1907), Phong Thần Diễn Nghĩa (1907), Tam Quốc Diễn Nghĩa (1907), Ngũ Hộ Bình Nam (1907), Càn Long Hà Giang Nam (1908), Chung Vô Diệm (1909), Tây Hán Diễn Nghĩa (1908), Thuyết Đường Diễn Nghĩa (1908), Tiết Nhơn Quy Chính Đông (1910),…

Trong những năm 1920 và 1930, các tác phẩm được tái bản nhiều lần hoặc dịch lại bên cạnh nhiều tác phẩm mới ít được biết đến hơn. Theo các bảng thư tịch, Tam Quốc Diễn Nghĩa có ba bản dịch của Nguyễn Liêng Phong và Nguyễn An Cư (1907), Nguyễn An Cư (1912), Nguyễn Liêng Phong (1927), Đông Châu Liệt Quốc có bốn bản dịch của họ Nguyễn. Chánh Sắt (1906), Nguyễn Công Kiều (1919), Trần Đình Nghi (1928), Đào Trinh Nhất (1929), … Trong phong trào dịch tiểu thuyết chữ Hán ở Nam Kỳ, rất hiếm thấy những tiểu thuyết ngôn tình như thế này. . Tuyết Hồng Lệ Sư, Hồng Lâu Mộng.

Tại sao các dịch giả Nam Kỳ lại chọn tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc?

Các dịch giả Nam Kỳ lúc bấy giờ không chú trọng dịch những tiểu thuyết “tình êm đềm” mà chỉ chú trọng đến truyền kỳ hào hiệp.

Có lẽ xuất phát từ vấn đề độc giả và dịch giả của bộ phận văn học này. Độc giả Nam Kỳ đa số là những người bình thường ít học, nhưng ham hiểu biết. Sự tò mò, thích khám phá và tôn trọng tôn giáo chắc chắn đã bắt nguồn từ tâm lý của nhiều người định cư sớm.

Chính điều kiện tự nhiên và đặc điểm địa văn hóa đã hình thành nên thói quen sáng tác và thưởng thức nghệ thuật, nói nôm na là diễn xướng chứ không phải viết, như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân lưu ý.

Tác phẩm thể hiện rõ đặc điểm này là bài thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Lục Vân Tiên (do Duy Minh Thi xuất bản năm 1874) độc đáo khi thể hiện qua khẩu ngữ, tạo thành cả một thể loại “Nói thơ Vân Tiên” trong đời sống văn hóa Nam Kỳ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ. . 20.

Trở lại với tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, là những tác phẩm viết vào các triều đại nhà Minh (1368-1644), nhà Thanh (1636-1912), hầu hết đều có nguồn gốc từ văn học dân gian, là những câu chuyện dưới dạng đồng thoại. sau đó, các tác giả bác học đã điều chỉnh cốt truyện và sáng tạo nó thành các tác phẩm nghệ thuật.

Tiểu thuyết lịch sử thường đề cao lòng trung thành, lòng hiếu thảo, sự hiếu thảo, đức độ, đạo trời, diệt bạo, chiến thắng lòng trung thành và xu nịnh. Về bản chất, tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc rất thích hợp với môi trường biểu diễn. Điều này không đi ngược lại sở thích và thẩm mỹ của đa số độc giả Nam Kỳ. Cần lưu ý rằng, trước phong trào dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, các nhân vật trong các tiểu thuyết nổi tiếng như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, Tiết Nhơn Quý đều được tiếp nhận dưới dạng tuồng. lịch sử sân khấu, hay các bài thơ Từ Thư Quý Cao, Tôn Phu Nhân Quý Hán của Tôn Thọ Tường…

Giờ đây, thông qua chữ quốc ngữ, nhiều tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc có thể được thưởng thức lại trên một tinh thần mới, trong một bối cảnh lịch sử và văn hóa mới. Những người trẻ biết chữ quốc ngữ, còn chịu ảnh hưởng của Hán-Học thì thích thú và thường đọc lại cho người già, nên đã tạo nên một phong trào lớn trong “văn hoá đọc” Nam Kỳ.

Người đọc là vậy, còn người dịch thì sao?

Trong xu hướng văn học gắn chặt với thị trường, dịch giả bị người đọc chi phối cách lựa chọn tác phẩm và phong cách thể hiện.

Vì vậy, để dịch sách, người dịch phải có đủ các điều kiện: thông thạo Hán văn, giỏi tiếng Việt, nắm bắt nhanh thị hiếu của độc giả. Dịch giả Nam Kỳ thường là những trí thức Nho học cầm bút, ký giả, những người làm công việc liên quan đến văn hóa.

Ví dụ cụ Nguyễn Chánh Sắt quê ở Tân Châu (1869-1947) lúc nhỏ học chữ Hán với cụ Tú tài Trần Văn Thưởng, sau học sơ cấp Pháp – Việt ở Châu Đốc, làm báo, viết văn, dịch tiểu thuyết chữ Hán. ; Lương Khắc Ninh học cụ Dư Thức (1862-1943), thuở nhỏ học chữ Hán. Năm 14 tuổi, anh buộc phải vào học trường Pháp – Việt; Trần Phong Sắc quê Đăng Huy là thầy dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ tại trường học ở tỉnh lỵ Tân An; Nguyễn An Khương, quê ở Tân An, là danh sĩ, tinh thông Nho học; Nguyễn An Cư, học giả, chuyên gia dịch thuật Hán văn và quốc ngữ…

***

Hơn 100 năm, nay lật lại những trang sách dịch từng làm say đắm lòng độc giả Nam Kỳ, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước những kỳ tích ấy. Với số lượng tác phẩm dịch khổng lồ, số lượng ấn bản lớn, tái bản nhiều lần, cùng một tác phẩm nhưng xuất hiện ở nhiều bản dịch khác nhau đã tạo nên những ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội và đặc biệt là trong xã hội. gây nên phong trào sáng tác tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau này. [đ.d.]

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Tags:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *