Thủ đoạn mới của Bắc Kinh ở Biển Đông

  • by

Hieu Chan / Vietnamese

Chỉ vài ngày sau chuyến công du Đông Nam Á của Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris – với trọng tâm là vận động Singapore và Việt Nam hợp tác chống lại hành động cưỡng bức của Trung Quốc ở Biển Đông – chính quyền Cộng sản Bắc Kinh đã tung ra những thủ đoạn mới, vừa hù dọa các nước nhỏ trong khu vực và thách thức trật tự quốc tế dựa trên luật lệ do Hoa Kỳ thúc đẩy.

Tàu khu trục tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke USS Kidd (DDG 100) và tàu tuần duyên USCGC Munro (WMSL 755) của Hải quân Hoa Kỳ đã quá cảnh eo biển Đài Loan vào ngày 27 tháng 8. (Ảnh: US Navy Photo)

Vào thứ Sáu, ngày 27 tháng 8, chính phủ Trung Quốc đã công bố các quy tắc tuyên bố mới đối với các tàu đi vào vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, bao gồm hầu hết Biển Đông, eo biển Đài Loan và Biển Đông. Loan và Biển Hoa Đông – nơi Trung Quốc tranh chấp với nhiều nước khác. Quy định mới là một phần của cái gọi là Luật An toàn Giao thông Hàng hải của Trung Quốc, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9, bất chấp sự phản đối của quốc tế vì nó trái với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Biển năm 1982 (UNCLOS) mà Trung Quốc ký kết.

Quy định kỳ lạ của Bắc Kinh

Quy định mới bắt buộc tất cả các tàu mang cờ nước ngoài phải báo cáo với nhà chức trách Trung Quốc khi đi vào “vùng biển thuộc lãnh hải của Trung Quốc.”

Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) trích dẫn quy định nêu rõ 5 loại tàu phải được khai báo: (i) tàu ngầm; (ii) tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân; (iii) tàu chở vật liệu phóng xạ; (iv) tàu chở các chất độc hại như dầu hỏa, hóa chất hoặc khí hóa lỏng và (v) các tàu khác ‘có thể gây nguy hiểm cho an toàn giao thông hàng hải của Trung Quốc’… Các tàu phải khai báo danh tính, số IMO [số định danh của Tổ Chức Hàng Hải Quốc Tế], vị trí tàu, địa điểm và ngày giờ khởi hành, điểm đến tiếp theo và ngày giờ đến dự kiến, số điện thoại vệ tinh, tên hàng nguy hiểm và số lượng cụ thể. Sau khi vào “lãnh hải Trung Quốc”, nếu hệ thống nhận dạng tự động (AIS) trên tàu hoạt động tốt thì không cần phải khai báo. Đối với tàu không có AIS hoặc AIS bị hư hỏng, thủy thủ đoàn phải báo cáo danh tính, vị trí tại thời điểm báo cáo và tốc độ di chuyển hai giờ một lần cho cơ quan chức năng Trung Quốc.

Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc cũng đe dọa: “Cục An toàn Hàng hải Trung Quốc cảnh báo rằng các trường hợp không tuân thủ sẽ bị ‘xử lý theo pháp luật’ và ‘nếu tàu không tuân thủ là tàu quân sự, đây sẽ là hành động’ khiêu khích ‘và sẽ bị’ xa lánh. hoặc bị quân đội Trung Quốc trừng phạt. ‘”

Vào tháng Giêng năm nay, Trung Quốc đã ban hành Luật Biển mới, có hiệu lực từ ngày 1/2, cho phép lực lượng bảo vệ bờ biển nước này sử dụng vũ khí chống lại tàu nước ngoài xâm phạm “lãnh thổ của đất nước”. của đất nước ”ở Biển Đông và Biển Đông.

Tổng hợp lại, Luật Biển và Luật An toàn Giao thông Hàng hải của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh kiên quyết sử dụng vũ lực để áp đặt các yêu sách chủ quyền, hay còn gọi là “lãnh hải của Trung Quốc” trên các vùng biển quốc tế. vùng kinh tế, bao gồm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước láng giềng ven Biển Đông.

Thách thức luật pháp quốc tế

Cả Luật Biển và Luật An toàn Giao thông Hàng hải đều áp dụng trong phạm vi “lãnh hải” của Trung Quốc – một khái niệm mà Bắc Kinh diễn giải trái ngược với UNCLOS năm 1982, để bao quát toàn bộ Trung Quốc. Biển Đông nằm trong đường chín đoạn mà Bắc Kinh tự ý vẽ ra.

UNCLOS quy định một quốc gia ven biển có “lãnh hải” rộng 12 hải lý (22 km) tính từ đường cơ sở trên đất liền, ngoài “lãnh hải” là “vùng tiếp giáp lãnh hải”. đới) cũng rộng 12 hải lý; và vùng đặc quyền kinh tế ”(EEZ) cách đường cơ sở 200 hải lý – nơi quốc gia ven biển có độc quyền khai thác tài nguyên biển và khoáng sản. Bên ngoài lãnh hải 12 hải lý là vùng biển quốc tế, nơi tàu thuyền, kể cả tàu chiến, của tất cả các quốc gia khác tự do đi lại mà không cần thông báo hoặc cho phép của quốc gia ven biển.

Theo Điều 2 của Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1992 của Trung Quốc, “lãnh hải” được định nghĩa là “vùng nước tiếp giáp với lãnh thổ của Trung Quốc” mà lãnh thổ của nó bao gồm “đất liền và các đảo của Trung Quốc”. ngoài khơi, Đài Loan và các đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa (Việt Nam gọi là Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa). ” Cách giải thích tùy tiện và phi lý này về “lãnh hải” của Trung Quốc hoàn toàn trái với Công ước UNCLOS vừa nêu ở trên. Theo công pháp quốc tế, nếu luật của một quốc gia nào đó trái với các điều ước quốc tế mà quốc gia đó đã ký kết thì luật quốc tế phải được tôn trọng; Trong trường hợp này, Bắc Kinh đã sử dụng luật trong nước để phủ nhận luật quốc tế – một hành vi vừa coi thường luật pháp quốc tế công khai, vừa tạo tiền lệ nguy hiểm cho cộng đồng thế giới.

Lập trường hợp pháp đó của Trung Quốc đã bị tòa án quốc tế bác bỏ. Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) thực hiện UNCLOS đặt tại The Hague, Hà Lan, ban hành ngày 14 tháng 7 năm 2016, quyết định rằng các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông là “bất hợp pháp”, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng các quy định của UNCLOS. trong vấn đề Biển Đông.

Khả năng xung đột tăng lên

Tuy nhiên, âm mưu độc chiếm Biển Đông và biến Biển Đông thành ao nhà của Trung Quốc đã có từ lâu và Bắc Kinh vẫn kiên trì thực hiện âm mưu đó bằng cách xâm lược dần dần theo kiểu gặm nhấm. .

Giờ đây, các quy định mới của Trung Quốc về tuyên bố và luật hàng hải, cộng đồng quốc tế – và các nước là nạn nhân ở Đông Nam Á – phải đối mặt với một thực tế mới: nếu yêu cầu tuyên bố được tuân thủ, thì ngầm thừa nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông. ; Mặt khác, nếu không chấp nhận các tuyên bố và hành xử theo luật hàng hải quốc tế, nguy cơ xung đột với lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc là hoàn toàn có thể xảy ra. Các tuyên bố của các tàu trên Biển Đông có thể được Bắc Kinh sử dụng như một bằng chứng về chủ quyền của mình; và chống đối bằng vũ lực không phải là lựa chọn đúng đắn đối với các tàu dân sự không được trang bị để chiến đấu.

Theo một số nhà quan sát, quy định mới của Trung Quốc cũng nhắm vào các tàu quân sự, mà Bắc Kinh gọi là “các tàu có thể gây nguy hiểm cho sự an toàn của giao thông hàng hải” – một điều rất mơ hồ, có thể được hiểu theo bất kỳ cách nào. Thời báo Hoàn cầu ám chỉ điều này là nhằm vào các tàu quân sự nước ngoài, cụ thể là hạm đội Hoa Kỳ.

Trong các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) ở Biển Đông, Hải quân Hoa Kỳ luôn nhấn mạnh rằng “Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bay qua, đi qua và hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép”. Nếu Trung Quốc liều lĩnh cản trở hoạt động của tàu chiến Mỹ ở Biển Đông, eo biển Đài Loan hoặc Biển Hoa Đông gần đảo Senkaku của Nhật Bản, chiến tranh là điều khó tránh khỏi và hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc không chỉ đối với Trung Quốc, Mỹ mà còn cả khu vực và thế giới. Ngay cả khi không có chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, sự leo thang căng thẳng là điều chắc chắn.

Nhưng nhiều khả năng khi áp đặt luật mới, Trung Quốc sẽ chỉ nhắm vào các tàu dân sự và nước nhỏ mà không đụng đến Hải quân Mỹ. Chỉ cần các tàu dân sự tuân thủ tuyên bố khi đi vào Biển Đông, Trung Quốc có bằng chứng về việc họ kiểm soát thực tế tuyến đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. Cách tính toán như vậy cho thấy sự thâm độc trong hành động của Bắc Kinh.

Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế phải làm gì?

Cộng đồng quốc tế và các nước châu Á, bao gồm cả Nhật Bản và Hàn Quốc, sẽ phản ứng như thế nào? Đã có tiếng nói trong giới lập pháp và quân đội Hoa Kỳ yêu cầu chính quyền Biden bác bỏ các quy định của Trung Quốc và ban hành chỉ thị cho tất cả các tàu gắn cờ Hoa Kỳ “phớt lờ” chúng. “Hoa Kỳ nên nói rõ rằng tất cả các tàu của Mỹ, dù là dân sự hay quân sự, sẽ tiếp tục ra khơi tự do trong vùng biển quốc tế. Bất kỳ lực lượng nào cố gắng ngăn cản các hoạt động hợp pháp như vậy sẽ bị Hoa Kỳ đáp trả bằng đòn trả đũa thích đáng ”, Washington Examiner hôm 31/8 bình luận.

Trong chuyến thăm Đông Nam Á vừa qua, Phó Tổng thống Kamala Harris đã nhiều lần tố cáo mạnh mẽ các âm mưu của Trung Quốc.

Tại Singapore, trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Lý Hiển Long, bà Harris nhấn mạnh: “Chúng tôi biết rằng Bắc Kinh tiếp tục cưỡng chế, đe dọa và tuyên bố chủ quyền trên một khu vực rộng lớn ở Biển Đông. Các hành động của Bắc Kinh tiếp tục hủy hoại các trật tự quốc tế và đe dọa chủ quyền của các quốc gia. “

Trên tàu USS Tulsa, cập cảng quân sự Changi của Singapore, Harris nói với quân đội Mỹ: “Chúng tôi có lợi ích thiết yếu là đoàn kết với các đồng minh và đối tác của chúng tôi ở Đông Nam Á để bảo vệ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.”

Trong cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội, Phó Tổng thống Harris tiếp tục kêu gọi: “Chúng ta cần tìm cách gây sức ép, gia tăng sức ép… để buộc Bắc Kinh tuân thủ Công ước. Liên hợp quốc về Luật Biển, và thách thức các hành vi bắt nạt và yêu sách hàng hải quá mức của họ. “

Lập trường của Hoa Kỳ về Biển Đông đã rất rõ ràng. UNCLOS là nền tảng của trật tự hàng hải ở Biển Đông. Vấn đề lúc này là Washington nên tận dụng thời điểm các nước Đông Nam Á và thế giới phẫn nộ, lo lắng trước những hành động hung hăng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc để thành lập liên minh quốc tế đối đầu với mối đe dọa. Bắc Kinh và buộc Trung Quốc phải trả giá đắt vì liều lĩnh bất chấp luật pháp và trật tự quốc tế.

Các tàu chiến của Anh, Đức, Pháp, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ đều đã hiện diện ở Biển Đông – đây có thể là thời điểm thích hợp để hình thành một liên minh quốc tế như vậy. Các nước nhỏ trong khu vực như Việt Nam, vốn không phải là đối thủ và thậm chí không nhiệt tình chống lại Trung Quốc do phụ thuộc về kinh tế và chính trị, cũng nên nắm bắt cơ hội để thể hiện sự ủng hộ đối với luật pháp. luật pháp quốc tế, bác bỏ quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh”. [qd]

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *