Một người Quảng lưu lạc

  • by

LTS: Nhật báo Người Việt mở chuyên mục “Người đọc để viết” để mời độc giả cùng “làm việc chung” với người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, ký ức, kiến ​​thức, kinh nghiệm … về cuộc sống. và xã hội. Để tham gia, vui lòng gửi email: [email protected].

Thi Le

Miếu thờ Nguyễn Văn Nhơn ở Sa Đéc (Ảnh: Facebook Thi Le)

Quận công Kinh Môn Nguyễn Văn Nhơn là người Đà Nẵng di cư vào Nam. Ông là một trong Ngũ hổ tướng Gia Định, Đại tài Quốc sư Quân và cũng là người đã hai lần làm tổng trấn Gia Định, hai lần làm “bá chủ” với các… vua triều Nguyễn!

Tổng đốc đầu tiên của thành Gia Định

Nguyễn Văn Nhơn (1753-1822) là một danh thần thời Nguyễn. Tên Nhơn hay Nhân do vua Gia Long đặt.

Ông nguyên tên là Nguyễn Văn Sang, biệt hiệu là “Quan lớn Sen”, quê ở làng Tân Đông, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang, nay thuộc thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyễn Văn Nhơn bắt đầu cuộc đời binh nghiệp với chức Cai đội năm 1774, cùng bốn đội kỵ binh theo sau quan chức Hồ Tông Phước Hiệp của Trần Thủ Long.

Năm 1877, ông được thăng chức Cai cơ Năm 1782, ông bị Tây Sơn bắt giam 3 năm.

Sau khi trốn thoát, ông sang Xiêm (Lào) gặp Nguyễn Ánh. Trên đường đi, ông gặp một người do Chúa sai nên quay lại, tập trung quân đánh chiếm Long Xuyên.

Sau khi chiếm lại Gia Định, ông được thăng chức Vệ binh Hữu Tiệp Trung quân Thủy dinh, rồi được giao trấn giữ Định Biên.

Sau khi lên ngôi, vua Gia Long Nguyễn Ánh bổ nhiệm ông làm Tổng trấn Gia Định (1802-1805). Năm 1808, khi đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành, ông được phong làm Tổng đốc, trở thành Tổng đốc đầu tiên của Gia Định Thành.

Năm 1813, ông giao chức vụ này cho ông Lê Văn Duyệt. Năm 1819, ông trở lại chức cũ. Tính năm 1821, ông được triệu về kinh cùng với Trịnh Hoài Đức, Phạm Văn Hùng giữ chức Tả tướng quốc Sư quân. Ông mất vào mùa xuân năm 1822, hưởng thọ 69 tuổi.

Nghe tin ông mất, vua Minh Mạng cho bãi chầu ba ngày và đích thân đến dâng lễ vật, câu đối. 100 vị khác tự hoàn tục, truy tặng sắc phong là Đức Vận Đồng Đức Công Thần, Đặc Tiến Trú Quốc Thượng Tướng Quân, Thái Bảo Quận Công.

Nguyễn Văn Nhơn được thờ ở Thế Miếu và Trung Hưng Công Thần Miếu (1824). Năm 1831, ông được truy tặng là Trang Võ tướng quân, Đô thống Phủ Tổng đốc, tước Kinh Môn, thụy là Mục Hiên.

Ngày nay, Nguyễn Văn Nhơn được thờ ở đình làng Tân Hưng Đông (Sa Đéc, Đồng Tháp) và tế hàng năm. Ngôi mộ của ông vẫn còn ở đây.

Ít ai biết rằng, Nguyễn Văn Nhơn đã hai lần “tâu” với các vua nhà Nguyễn. Con trai ông là Nguyễn Văn Thiện lấy công chúa Ngọc Khuê, con gái thứ 12 của vua Gia Long. Con gái của ông là Nguyễn Thị Trọng được đưa vào cung làm vợ lẽ của vua Thiệu Trị.

Ai đó đặc biệt

Nguyễn Văn Nhơn là người văn võ song toàn. Về võ nghệ, ông đã giúp Nguyễn Ánh chiếm lại vùng Gia Định, hợp quân đánh chiếm nhiều vùng đất quan trọng khác như Phủ Yên Diên Khánh.

Ông là nhân vật đứng hàng thứ hai trong ngũ hổ tướng Gia Định gồm Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức và Trương Tấn Bửu.

Tuy là một võ sư nổi tiếng nhưng không phải là võ tướng. Khi còn là trấn thủ Định Biên, ông đã xây dựng nơi đây thành hậu phương vững chắc và thịnh vượng giúp Nguyễn Ánh yên tâm tiến ra bắc thống nhất núi non.

Những năm cuối đời, ông làm quan văn thần hết lòng phò vua, giúp nước. Có người (giấu tên) đã nhận xét về ông: “Đời hổ tướng Nguyễn Văn Nhơn không gầm thét một vùng như Lê Văn Duyệt, không thao túng chiến trường như Nguyễn Văn Trương, cũng không oai hùng như hổ tướng nhà Trần. Quang Diệu, Lê Văn Hưng … của triều Tây Sơn … Cuộc đời của ông mang đầy màu sắc của một vị tướng có tài trị quốc, an dân, đặt lợi ích của dân, nước lên trên hết. khác.

Nguyễn Văn Nhơn đã từng cầm quân đánh hổ tướng Tây Sơn, đem quân chinh phạt Campuchia, Xiêm La khi cần, nhưng trên hết, ông đã dành 20 năm cuối đời để xây dựng đất nước Việt Nam thống nhất đất nước. hũ. ”(trích Lịch sử Việt Nam).

Anh là một người ham học hỏi, coi trọng việc học. Xuất thân là một võ sĩ, anh luôn coi trọng việc học hỏi và tiếp cận kiến ​​thức.

Thuở nhỏ, do hoàn cảnh chiến tranh, không được học hành đàng hoàng nên khi làm trấn thủ Trấn Biên, dù đã lớn tuổi, có địa vị nhưng ông vẫn đem thầy dạy kinh và ngày ngày miệt mài làm việc. đêm. học hỏi và tích lũy kiến ​​thức.

Nhờ vậy, việc phân tích tình hình trong các bài thuyết trình của ông luôn rất “bài bản” và đến cuối đời, ông được vua Minh Mạng phong làm quan ngự sử viết hai bộ sử quan trọng của triều Nguyễn là Liệt Thánh. Thục Lục và Đại Nam Thực Lục. Trong những ngày đó, không có một sinh viên thực sự nào lại không được giao công việc liên quan đến… lời nói.

Nguyễn Văn Nhơn cũng là một nghệ sĩ cải lương. Năm 1802, sau khi Gia Long bình định xong Bắc Hà, Nguyễn Văn Nhơn đã trình bày một bản khảo hạch gồm 14 điều liên quan đến nhiều lĩnh vực như:

– Đặt lại các thứ thuế, bỏ thuế tạp, giảm thuế cho dân.

– Cải cách học tập, lập nhà học, định lại khoa thi.

– Cầu người hiền, bổ nhiệm người hiếu thảo, đặt ra luật lệ nghiêm khắc với quan lại.

– Cải cách tập quán; sửa đổi hình phạt, phát thuốc cho dân nghèo, dựng trại ở nơi sản xuất kết hợp với bố trí quốc phòng, an ninh.

Tất cả các cuộc biểu diễn của ông đều được vua Gia Long tuân theo và ra lệnh.

A Quang… di cư

Trong tác phẩm Theo dấu người xưa (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2017) hai nhà nghiên cứu Phan Mạnh Hùng và Nguyễn Đông Triều cho rằng: “Tổ tiên Nguyễn Văn Nhơn quê gốc ở Cửa Hàn (nay là cửa khẩu). Đà Nẵng) theo chúa Nguyễn vào Nam tại dinh Trấn Biên, làng Bình Chánh (nay thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, sau lập quê quán ở làng Tân Đông, cha Nguyễn Văn Nhơn là Nguyễn Văn Quang (1705-1764). ) có ba vợ, Nguyễn Văn Nhơn là con riêng của vợ hai ”(trang 11,12).

Nhà nghiên cứu Nguyễn Nhất Thống, căn cứ vào gia phả của dòng họ Nguyễn Văn ở Sa Đéc, trong tác phẩm Vài nét văn hóa-lịch sử một vùng đất (NXB Hội Nhà văn, 2019) cho biết: “Ông Nhơn là người sinh quán ở Tấn. Làng Đông, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) Ông nội là Nguyễn Văn Trâu, quê ở Cửa Hàn, làng Cồn Nhạn, xã Ô Phi, Đà Nẵng. , hưởng ứng cuộc Nam tiến của chúa Nguyễn nên đưa gia đình vào Nam lập nghiệp, ông Trâu dừng thuyền tại làng Tân Đông, cạnh sông Tiền (nay là xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, Tỉnh Đồng Tháp) để khai phá, mở mang làm ăn, không bao lâu thì kết duyên với anh Chiêm ở xóm Tân Khánh, mối tình của anh Nguyễn Văn Quang và cô thôn nữ Thị Áo sinh ra. đến Nguyễn Văn Nhơn năm 1753. ”

Như vậy, Nguyễn Văn Nhơn là người Quảng di cư vào Nam đã ba đời. Rất tiếc, đến nay do nhiều lần đổi tên nhiều địa danh cũ không còn nữa nên chúng tôi vẫn chưa xác định được thôn Cồn Nhạn, xã Ô Phi ngày ấy thuộc địa phương nào của thành phố Đà Nẵng.

Dù rất vô tư, không muốn “bắt” một người sang chảnh nhưng chúng ta đều thấy ở Nguyễn Văn Nhơn có nhiều “chất” của… một người Quảng.

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Tags:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *