Nhớ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt dù chỉ ba lần gặp

Trần Yên Hòa

ANAHEIM, California (NV) – Vậy là đã hai năm kể từ ngày nhà thơ Trần Tuấn Kiệt rời cõi tạm. Ông mất ngày 8 tháng 10 năm 2019, tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi.

Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt. (Hình ảnh: Tài liệu)

Trần Tuấn Kiệt sinh năm 1939 tại Sa Đéc, bút hiệu chính là Sa Giang, đôi khi ông cũng dùng Sa Giang Trần Tuấn Kiệt ký tên dưới các bài thơ. Về phần văn chương, ông thường chỉ ký tên Trần Tuấn Kiệt.

Sau năm 1975, do truyện của các nhà văn miền Bắc viết ca ngợi Đảng, chế độ – thời đó gọi là văn minh họa – khiến người đọc “chán tận xương tủy” không muốn đọc nữa, một số nhà văn. Xuất bản để tìm những cuốn sách cũ của miền Nam trước 1975 viết về ngôn tình, võ hiệp, kiếm hiệp… vô thưởng vô phạt, để in thì Trần Tuấn Kiệt nhảy vào lĩnh vực này ngay.

Ông lấy nhiều bút hiệu khác nhau như Việt Thần, Việt Long, Duy Thức, Hồng Lĩnh, để viết truyện võ hiệp, truyện kiếm hiệp, sách dạy nấu ăn, võ học. Tất cả các chủ đề anh ấy đều đề cập đến, người mua sách nào cần loại sách đó là anh ấy có thể chuyển đến tay độc giả một cách nhanh chóng.

Đó là cuộc đời của Trần Tuấn Kiệt, viết cá kiếm cơm. Nhưng với anh, thơ vẫn là người bạn đồng hành chính của anh. Anh viết đủ thứ chủ đề để nuôi sống bản thân, và để nuôi thơ.

Đỉnh cao sự nghiệp của ông là đoạt giải nhất Giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa 1967-1969 công bố đầu năm 1970, đề tài Thơ với tập thơ “Đến cây bông gòn”.

Ông cũng viết các trường thi. Các trường ca thi chính của ông là: Ca dao hạ giới, Cổ miếu, Trường ca địa cầu, Triển mỗ ngâm khúc, Hồng hạc diên niên, Hỷ thần và địa ngục, Lạc đạo thi… có những bài dài đến cả nghìn câu.

Tôi thích thơ và truyện của Sa Giang Trần Tuấn Kiệt từ khi ông đăng trên tạp chí Văn Hóa Ngày Nay (1958) của Nhất Linh, cho đến tận bây giờ. Di sản văn học mà ông để lại rất đáng khâm phục.

Từ trái qua, Trần Thanh Ngọc, Nguyễn Thị Hàm Anh, Trần Yên Hoa và nhà thơ Trần Tuấn Kiệt. (Hình ảnh: Trần Thanh Ngọc)

đầu tiên.

Năm 1969, tôi nghỉ phép từ Đà Lạt vào Sài Gòn với người bạn cùng lớp là Trần Thanh Ngọc (người làm thơ với bút hiệu Triều Giang), mua vé máy bay về lại Đà Nẵng. Trong thời gian ở Sài Gòn đợi chuyến bay mấy ngày, Trần Thanh Ngọc rủ tôi đến thăm Trần Tuấn Kiệt, vì hai người chơi thân với nhau từ lâu.

Nhà Trần Tuấn Kiệt lúc đó nằm trong con hẻm ngoằn ngoèo ở khu tập thể Nguyễn Thiện Thuật hay Cao Thắng. Ngõ có nhiều gánh hàng rong, bày bàn ngoài đường, bán ngao, sò, cóc ổi, mực khô, đồ nhậu, bún riêu … Chúng tôi đi sâu vào trong ngõ, đến một ngôi nhà nhỏ. , theo đúng địa chỉ, Ngọc gõ cửa, một cái đầu bù xù ló ra. Tôi và Trần Thanh Ngọc né vào, căn nhà tối om, không đèn. Người đàn ông đó là Trần Tuấn Kiệt.

Kiệt nhìn Ngọc, biết là người quen nên nói: “Trong nhà nóng quá, lại mất điện nên ra ngoài kiếm chuyện khác”.

Tôi nhìn theo Trần Tuấn Kiệt và nhìn anh. Anh ta trông thật bụi bặm, quần áo xộc xệch, đầu tóc tai rũ rượi, giống một người khuân vác hơn là một nhà thơ. Trong khi hình ảnh trong đầu tôi về một Trần Tuấn Kiệt nho nhã, hào hoa, như một nhà nho sinh ra trong truyện cổ tích. Mọi tưởng tượng tan thành mây khói.

Trần Tuấn Kiệt gọi bia ngon, anh gọi thêm đồ uống. Ở đây chỉ có mực nướng, cóc ổi… Trần Tuấn Kiệt và Ngọc nói chuyện, tôi vừa nghe vừa xem. Kiệt uống rất nhiều bia, hầu như chỉ có anh ấy uống, còn tôi và Ngọc chỉ cắn môi.

Ngọc hỏi: “Vợ anh làm sao bây giờ?” Anh trả lời: “Cô ấy ở đằng kia, cuối hẻm, bán bắp nướng và chuối chiên, nhờ làm ăn mà nuôi cả nhà”.

Tôi nhìn xa xa, một người phụ nữ đang lúi húi rang ngô, tôi chợt thấy thương cho một người đàn bà phải lấy chồng thơ.

Sau khi uống rượu, Trần Tuấn Kiệt say khướt. Trần Thanh Ngọc trả tiền rồi chúng tôi ra về.

2.

Khoảng năm 1992, Nghiêu Đệ từ Mỹ về Việt Nam rủ tôi và Ngọc đến đình Ông Súng uống cà phê. Có lẽ Trần Tuấn Kiệt cũng có hẹn với Diêu Đệ nên chúng tôi ngồi khoảng mười lăm phút thì Trần Tuấn Kiệt đến.

Đã hơn 20 năm tôi mới gặp lại Trần Tuấn Kiệt. Tôi ở tù “cải tạo” sáu năm nên lòng rách như mướp. Về phần Trần Tuấn Kiệt, không biết có chuyện gì mà cũng bị nhốt gần chục năm. Lúc này nhìn lại Trần Tuấn Kiệt mới thấy anh già đi rất nhiều, răng rụng gần hết.

Hãy nghe Trần Tuấn Kiệt nói, bây giờ anh ấy thường xuyên bị đau đầu, nếu mỗi ngày không uống ít nhất một chai bia sẽ rất đau đầu, vì vậy trong thời gian Nghiêu Đệ về Việt Nam, anh ấy đã để “gói ghém” Trần Tuấn Kiệt một chút. Mỗi ngày uống ít nhất một chai bia Sài Gòn, để chữa bệnh đau đầu cho anh. (Thời đó bia Sài Gòn rất quý và đắt hơn các loại bia lên men).

Lần thứ hai tôi gặp Trần Tuấn Kiệt chỉ có vậy.

“Lời nhắn với cây bông gòn” là tập thơ đoạt giải nhất của nhà thơ Trần Tuấn Kiệt, năm 1969. (Ảnh: Tư liệu)

3.

Thời gian trôi như nước chảy qua cầu. Một lần từ Mỹ về thăm Việt Nam, tôi (cũng) và Trần Thanh Ngọc chạy xe máy trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, sau khi ăn trưa tại một quán ăn gần Thảo Cầm Viên. Xe đi qua cầu Thị Nghè, bất ngờ Ngọc hỏi: “Vào thăm Trần Tuấn Kiệt, nhà Kiệt ở gần đây”. Tôi ậm ừ, nửa muốn đi, nửa muốn không, vì sắp đến giờ hẹn với một người bạn. Nhưng suy nghĩ, tôi nói với Ngọc: “Ừ, đi thôi”.

Căn nhà của Trần Tuấn Kiệt nằm sâu trong một con hẻm ở khu Thị Nghè. Ngọc chở tôi chạy lòng vòng (mà đến giờ tôi cũng không nhớ nổi đã bảo tôi chạy lại đoạn đường đó). Dừng xe trước một căn nhà, nhìn không khác gì tiệm làm tóc, Trần Tuấn Kiệt đã xuất hiện trước cửa. Thấy Ngọc, Kiệt quen một người quen nên mở cửa đón khách. Cửa hẹp nên xe phải để ngoài, Trần Tuấn Kiệt lấy mấy chiếc ghế nhựa cao ra mời khách ngồi rồi Trần Thanh Ngọc đi gọi cà phê.

Trần Tuấn Kiệt bây giờ đã khá hơn trước, tuy đã lớn tuổi nhưng da dẻ cũng hồng hào hơn, tuy nói sức khỏe kém, không đi xa được, người rất mệt và chóng mặt. Rồi anh hàn huyên qua thơ, những kỷ niệm xưa với những cuốn sách dự định in.

Lần này tôi rất vui khi được gặp chị Hàm Anh, cũng tại nhà của Trần Tuấn Kiệt. Hàm Anh là nhà văn nữ chuyên nghiên cứu, phê bình trong nước.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ nghe Trần Tuấn Kiệt tâm sự mọi chuyện. Rồi chúng tôi chào tạm biệt, chúc anh sức khỏe, để anh viết nhiều hơn, viết hay.

Sau đó, tháng 10 năm 2019, anh ấy rời đi. Buồn và tiếc.

Đến cuối đời, ông đã xuất bản khoảng 200 tác phẩm ở nhiều thể loại: thơ, truyện dài, sử thi kiếm hiệp, tín ngưỡng Thần đạo Việt Nam, bình văn và cả võ hiệp. (Trần Yên Hoa)


Mời bạn đọc hai bài thơ của Trần Tuấn Kiệt:

Đêm

Những kẻ buôn ma túy lang thang về đêm
Đời cũng buồn và bụi bặm
Đêm cô đơn với những chiếc răng nanh sắc nhọn
Vầng trăng xa xăm đầu trắng trên bầu trời

Một đêm đĩ trong trái tim khao khát
Đêm gió lạnh mưa rơi.
Đêm đỏ sẫm là màu của nước mắt
Màn đêm cứ thế trôi qua và mãi về sau

Ngồi giữa đêm buồn sâu thẳm.
Ngã ba đường ôi đường về quê hương
Con chó cái tiểu đường vào ban đêm ướt đẫm vì bệnh tiểu đường
Đêm niệm quỷ từ giã cõi đời

Đêm Phạm Cung với Cạm bẫy Xác người
Đêm bóng ma bên trông xôi.
Một đêm rất rảnh rỗi giữa cơn đói
Đêm của những hồn ma tàn bạo thê lương của con người

Đêm như một con phố buồn mở rộng
Đèn lồng, rắn và rết lang thang xung quanh
Đêm cháy, trẻ em không có thức ăn
Đêm xưa kể về bóng ma áo chàm

Đêm Chúa ngồi chơi trong sòng bạc mới
Thả rừng mây trên chiếu bạc
Đêm quỷ vương vẫn gào thét địa ngục
Đêm nhà thờ cảnh vật lạnh lẽo đột nhiên vang lên.

Mùi của đạo đức giả

Anh ấy khắc khổ trong cuộc sống trần tục
Tôi đang suy ngẫm về thế giới vô tận
Lời gửi mây gió
Chút sầu nhân gian giữa quê hương thủy chung.

Tôi nhìn thẳng vào mặt anh ta – Lịch sử
Vết thương đau là vĩnh viễn
Kiêu ngạo tranh giành quyền lực
Bàn máu quá bốc mùi

Có những khoảnh khắc kỳ diệu như những chú khỉ
Cướp bàn đào uống nhiều rượu tiên.
Có những lúc cái đuôi của tôi cứ dài ra
Dưới năm ngọn núi, tổ tiên của Đức Phật đã nghiền nát

Tôi cứ thấy thế giới có nhiều giấc mơ
Vẫn như một con ngựa hí về khuya
Tôi đặt bàn tay ô uế của mình
Tạm biệt những giấc mơ giữa cơn mê

Để nửa đời người hết máu
Trên đỉnh núi trầm hương cổ tự Tu-di
Nửa còn lại say mê mùi mẫn.
Tôi yêu bạn điên cuồng trên đường trở về.


————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *