Sỏi mật có thể là dấu hiệu nguy cơ ung thư tuyến tụy cao hơn

BOSTON, Massachusetts (NV) – Một nghiên cứu gần đây đã tìm thấy mối liên hệ giữa bệnh sỏi mật và ung thư biểu mô tuyến tụy (PDAC), mang lại hy vọng chẩn đoán sớm ung thư tuyến tụy, bệnh thường chỉ được phát hiện ở giai đoạn đầu của nó. sau đó, gây khó khăn cho việc điều trị, theo UPI.

Cụ thể, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những bệnh nhân PDAC có nguy cơ bị sỏi mật cao gấp 6 lần vào năm trước khi họ được chẩn đoán ung thư, so với những người không bị ung thư.

Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính. (Hình minh họa: Hannah McKay / AFP qua Getty Images))

Tiến sĩ Marianna Papageorge, một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Boston và là tác giả của nghiên cứu, cho biết: “Tôi hy vọng những gì tôi tìm hiểu được sẽ giúp bệnh nhân cảnh giác hơn. Đặc biệt đối với những bệnh nhân bị sỏi mật hoặc đã trải qua phẫu thuật cắt túi mật, họ cần được theo dõi chặt chẽ. tình trạng sức khỏe của họ để kịp thời can thiệp khi có triệu chứng bất thường ”.

Đồng thời, bà Papageorge cho rằng nếu bệnh nhân bị sỏi mật có tiền sử gia đình bị ung thư tuyến tụy thì bác sĩ nên xem xét khả năng bệnh nhân cũng bị ung thư tuyến tụy.

Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân bị cả sỏi mật và ung thư tuyến tụy có thể được chẩn đoán mắc bệnh ung thư ở giai đoạn sớm hơn và có nhiều khả năng được điều trị bằng phẫu thuật.

Đối với nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã xem xét hồ sơ y tế từ năm 2008 đến năm 2015 trong cơ sở dữ liệu của Medicare, tìm thấy 18.700 bệnh nhân PDAC và so sánh dữ liệu với mức trung bình gần 100.000 bệnh nhân mỗi năm. năm.

Kết quả cho thấy 4,7% bệnh nhân PDAC đã được chẩn đoán sỏi mật một năm trước khi chẩn đoán ung thư và 1,6% bệnh nhân PDAC đã được phẫu thuật cắt túi mật. So với những người được chẩn đoán không mắc ung thư, tỷ lệ sỏi mật và cắt túi mật lần lượt là 0,8% và 0,3%.

Bà Papageorge giải thích: “Chúng tôi không thể xác định mối quan hệ nguyên nhân và kết quả của những gì được thấy trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, một giả thuyết cho rằng sỏi mật gây ra tình trạng viêm nhiễm khu vực tuyến tụy, từ đó dẫn đến chứng loạn sản và cuối cùng là ung thư biểu mô ”.

Khi các bác sĩ có thể chẩn đoán PDAC sớm hơn, họ có thể cứu sống bệnh nhân. Các triệu chứng thông thường như đau bụng hoặc muốn nôn cũng có thể là các triệu chứng. Hiện không có chương trình tầm soát ung thư tuyến tụy ở Hoa Kỳ.

Từ những kết quả này, bà Papageorge nói rằng trong tương lai, việc sàng lọc sẽ bao gồm khuyến khích những người bị sỏi mật và các yếu tố nguy cơ khác siêu âm qua nội soi.

Kết quả của nghiên cứu dự kiến ​​sẽ được trình bày vào ngày 23 tháng 5 tại Tuần lễ Bệnh tiêu hóa ở San Diego. Đây là cuộc họp thường niên của các bác sĩ, nhà nghiên cứu và học giả trong các lĩnh vực tiêu hóa, gan mật, nội soi và phẫu thuật tiêu hóa.

Tiến sĩ Philip Hart, giáo sư nội khoa lâm sàng tại Đại học bang Ohio cho biết, ung thư tuyến tụy là một vấn đề lớn vì không dễ chẩn đoán sớm và tỷ lệ sống sót không cao. Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe cần xác định các cơ hội để chẩn đoán sớm căn bệnh này. Bởi hiện nay chỉ có khoảng 10% đến 20% người mắc bệnh ung thư tuyến tụy được chẩn đoán khi bệnh chưa di căn, có thể điều trị bằng phẫu thuật.

Ông Hart muốn tìm hiểu thêm về nghiên cứu của bà Papageorge. Ông cũng băn khoăn về mối liên hệ giữa bệnh sỏi mật và ung thư tuyến tụy là do bệnh nhân bị chẩn đoán nhầm từ ung thư tuyến tụy sang bệnh túi mật.

Ngoài nghiên cứu trên, ông Hart còn muốn tìm hiểu về hai nhóm bệnh nhân khác. Một nhóm là những người mắc bệnh tiểu đường ở tuổi trưởng thành. Nhóm còn lại là những người có gen di truyền mắc bệnh ung thư tuyến tụy nhưng bản thân không hề hay biết.

Theo ông, đối với lĩnh vực ung thư tụy, có hai vấn đề cần phải làm. Đầu tiên là xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao để họ biết. Thứ hai là tìm những người này và cho họ tầm soát, để nếu họ phát triển thành ung thư, các bác sĩ vẫn có thể can thiệp kịp thời. (V. Giang)

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^]

Leave a Comment

Your email address will not be published.