Từ Afghanistan tới Iraq, phải chăng Hoa Kỳ đã ‘trao duyên lầm’?

  • by

Vann Phan / Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Cuộc rút lui vội vã và khó khăn khỏi Kabul của binh lính và thường dân Mỹ cũng như những người Afghanistan làm việc cho Mỹ vào cuối tháng 8 thể hiện một thất bại nghiêm trọng cả về chính trị và quân sự của siêu cường. tăng cường sức mạnh cho Hoa Kỳ sau 20 năm can thiệp vào Trung Đông và Cận Đông.

Một máy bay của Không quân Hoa Kỳ chở người tị nạn vừa cất cánh từ sân bay Kabul, ngày 30 tháng 8 năm 2021. (Ảnh: Aamir Qureshi / AFP qua Getty Images)

Hoa Kỳ bắt đầu gửi quân vào khu vực sau vụ 11/9 vào tháng 9 năm 2001, với các cuộc xâm lược vào Afghanistan (tháng 10 năm 2001), Iraq (tháng 3 năm 2003) và Syria (tháng 9 năm 2014). ).

Phải chăng tình trạng thảm hại này là hệ quả tất yếu của việc Mỹ chọn nhầm đối tác đầu tư chính trị và quân sự, tức là Mỹ đã “ưu ái” nhầm đối tượng nên gặt hái thành quả tốt nhất. quả cay. Trong khi, ở thế kỷ trước, Hoa Kỳ đã chọn đúng đối tượng làm “bạn đồng hành” là Việt Nam Cộng Hòa, nhưng lại bỏ cuộc giữa chừng vì không biết nhìn xa, trông rộng và vì thiếu ý chí tiến lên. . Con đường đã chọn cũng không thành.

Mối quan hệ khó khăn của Hoa Kỳ với Afghanistan và Iraq từ năm 2001 đến năm 2021

Dưới đây là những trở ngại trong mối quan hệ của Hoa Kỳ với Afghanistan và Iraq, từ năm 2001 đến năm 2021, sau khi các nhà chiến lược ở Washington quyết định chọn Afghanistan và Iraq là nơi đầu tư cả về chính trị và quân sự, với mục đích rõ ràng là thiết lập thành trì chống khủng bố ở miền Trung này và Khu vực Cận Đông, đồng thời để mở rộng ảnh hưởng của phương Tây bằng cách truyền bá khái niệm và thể chế tự do và dân chủ ở các quốc gia mà họ chiếm đóng.

-Ra tôn giáo và văn hóa: Đối với các quốc gia thuần túy theo đạo Hồi, Hoa Kỳ và các đồng minh châu Âu, vốn phần lớn theo đạo Thiên chúa, rất khó hòa hợp với chính phủ và người dân. địa phương, thậm chí với tư cách là các quốc gia đồng minh, chứ chưa nói đến với tư cách là một người chiếm đóng và một quốc gia bị chiếm đóng, như trường hợp của Afghanistan và Iraq. Về mặt văn hóa, bao gồm phong tục, tập quán và bình đẳng nam nữ, Hoa Kỳ và các nước châu Âu thực sự khác với Afghanistan và Iraq.

-Chính trị: Trong khi Hoa Kỳ và các nước Châu Âu coi trọng vai trò của quyền lực thế tục, tức là chính phủ thế tục, thì các nước Hồi giáo dù cởi mở đến đâu cũng chỉ muốn dựa vào thần quyền để cai trị, tức là dựa vào Hồi giáo và giáo sĩ để điều hành đất nước. Tình trạng này không chỉ tồn tại ở các quốc gia Hồi giáo cực đoan như Iran và các quốc gia trong quỹ đạo của chúng, mà còn ở các quốc gia Hồi giáo ôn hòa như Ả Rập Xê Út, Kuwait, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Emirates, Bahrain…

-Về mục tiêu dài hạn: Khi đưa quân sang chiếm đóng Afghanistan và Iraq, mục tiêu lâu dài của Hoa Kỳ và các nước Châu Âu trước hết là muốn các nước này thống nhất một mặt chứ không phải một mặt khác. tiếp tục chia rẽ vì sự khác biệt về giáo phái. Những người chiếm đóng sau đó sẽ tìm cách gieo mầm tự do và dân chủ trong các xã hội Hồi giáo khép kín ở Trung và Cận Đông, từ đó truyền bá phong trào giải phóng phụ nữ và tôn trọng giới tính, vốn là hai yếu tố vẫn bị coi là cấm kỵ trong nhiều thế hệ ở các quốc gia trong khu vực.

Trên thực tế, cả Afghanistan và Iraq sẽ không bao giờ là những quốc gia thống nhất như thường lệ, bởi vì Afghanistan luôn bị vây hãm bởi các giáo phái và lãnh chúa, và ở Iraq có ba nhóm người Sunni và Shi. ‘ite và Kurd mọi người chỉ muốn ở một mình theo một hướng. Hơn nữa, các chính phủ và người dân ở Afghanistan và Iraq không bao giờ muốn thấy sự hiện diện kéo dài của Hoa Kỳ và các nước phương Tây ở đất nước của họ, chưa nói đến các phong tục, tập quán và quan niệm của nước ngoài. mà những người chiếm đóng muốn đưa vào cấu trúc xã hội bảo thủ của họ.

Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975

Trong khi mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các quốc gia Afghanistan và Iraq rõ ràng là không suôn sẻ, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) đã kéo dài trong hai thập kỷ, từ năm 1954 đến năm 1975, trong đó bao gồm cả thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. (1960-1975), là khá thuận lợi, nếu không muốn nói là bền vững. Ngoại trừ một giai đoạn hỗn loạn ngắn ngủi khi Hoa Kỳ ủng hộ các tướng lãnh Việt Nam đảo chính và giết Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu, vì hai người này không muốn Hoa Kỳ đưa quân sang chiến đấu. miền nam việt nam.

Về tôn giáo và văn hóa: Hoa Kỳ tuy thuộc văn hóa phương Tây và Nam Việt Nam thuộc văn hóa Đông Á, nhưng cả hai đã khá hòa hợp với nhau, nhờ Việt Nam có nền văn hóa “tam dân”. Nho giáo, ”tức là Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo nương tựa vào nhau để tồn tại trong xã hội.

Rồi khi đạo Thiên chúa được truyền bá vào Việt Nam, mặc dù các vua, quan nhà Nguyễn chủ trương cấm đạo, bắt bớ giáo sĩ, giáo dân vì sợ mất quyền cai trị, nhưng đa số người Việt không phản đối đạo cũng không chấp nhận. bội giáo, khiến cho Thiên chúa giáo có thể chung sống hòa hợp với Nho, Lão, Phật như thời cổ đại, đơn giản vì tất cả đều có một mẫu số chung là hữu thần.

Trước khi người Mỹ đến Việt Nam, người Pháp đã đến và phổ biến văn hóa phương Tây cho người Việt, tức là họ đã gieo mầm tốt cho sự hòa hợp giữa người Mỹ và người Việt sau này. Đặc biệt, khác với các đô thị Hồi giáo ở Trung và Cận Đông, kiến ​​trúc ở các đô thị miền Nam Việt Nam ngày nay nhìn chung không mấy khác biệt so với các lâu đài, dinh thự. ở Hoa Kỳ và Châu Âu.

-Về chính trị: Khác với trường hợp Afghanistan và Iraq, miền Nam Việt Nam đã được tiếp xúc và trải nghiệm với tinh thần tự do dân chủ từ thời vua Bảo Đại thành lập Nhà nước Việt Nam tiền thân. của Việt Nam Cộng hòa, vào năm 1949, với hệ thống hành chính được bầu cử dân chủ từ trung ương đến địa phương, tuy chưa hoàn thiện, nhưng vẫn đầy hứa hẹn cho tương lai. Hơn nữa, ở Việt Nam không có thần quyền cai trị đất nước nên nền dân chủ phương Tây dường như không gặp khó khăn gì trong quá trình phổ biến ở vùng đất này.

-Về mục tiêu dài hạn: Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa tuy không hoàn toàn thống nhất về kế hoạch và thời gian chiến đấu chống lại Cộng sản xâm lược, nhưng đều có chung một mục tiêu dài hạn cho sự can dự của họ. Hoa Kỳ vào tương lai của xã hội Việt Nam. Đó là xây dựng miền Nam Việt Nam tự do, dân chủ trở thành một nước mạnh, có lập trường kiên quyết chống chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á.

Ưu điểm nổi bật của miền Nam Việt Nam là tinh thần đoàn kết và đồng tâm, sức mạnh tổng hợp của các vùng, miền, đảng phái, tôn giáo trong công cuộc chống Cộng để bảo vệ quyền tự do, dân chủ của mình, mặc dù trong xã hội luôn có những người bất đồng chính kiến ​​nhưng chỉ một thiểu số.

Ngoài những yếu tố thuận lợi trên, còn phải kể đến lòng trung thành của chính phủ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đối với chính phủ và quân đội Hoa Kỳ, ngay cả trong những ngày tàn của cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, các quan chức và quân nhân Mỹ thường tỏ ra cay đắng trước cách đối xử được cho là “tồi tệ” đối với một số thành phần chính phủ và quân đội ở Afghanistan và Iraq, đặc biệt là khi họ hiếm khi thể hiện bản thân. bày tỏ lòng biết ơn đối với những người Mỹ đã đến để giải phóng họ khỏi nanh vuốt tàn ác của Taliban cũng như chế độ độc tài của Saddam Hussein và đảng Ba’ath cầm quyền của giáo phái Sunni.

Đặc biệt, chính những người Iraq theo dòng Shi’ite đang cai trị ở Iraq (sau khi Saddam bị quân đội Mỹ lật đổ), dưới sự lãnh đạo của Giáo sĩ Muqtada al-Sadr đầy quyền lực, đã nghe theo lời xúi giục. của Iran nhưng đã nổi dậy chống lại quân đội Mỹ và tổ chức các cuộc biểu tình ồn ào để đuổi người Mỹ ra khỏi Iraq.

Thay vì kết thúc

Ở Việt Nam có câu “Trao nhầm phận cho người cướp của” để chỉ niềm tin tình yêu đặt nhầm chỗ chỉ dẫn đến nỗi buồn, cay đắng cho người đã trao gửi tình yêu. Nhưng phải biết rằng, thuật ngữ “tướng cướp” ở đây quá nhiều và không phù hợp với những đối tượng như Afghanistan và Iraq. Và kẻ thua cuộc trong trường hợp này là Hoa Kỳ và các đồng minh châu Âu đã tham gia vào việc chiếm đóng và bình định Afghanistan và Iraq.

Phải chăng, ngoài Afghanistan và Iraq, Hoa Kỳ cũng đang trong tình cảnh “lầm lỡ” trong quá trình lôi kéo Cộng Sản Việt Nam về phe mình để chống lại âm mưu độc chiếm Biển Đông và bá quyền ở thế giới. Trung Quốc cộng sản?

Đám đông người Việt di tản tại sân bay ngày 29 tháng 4 năm 1975. (Ảnh: National Archives / AFP via Getty Images)

Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng sản Việt Nam năm 1995, các quan chức cao cấp nhất của Hoa Kỳ, từ Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama đến Donlad Trump, và cả Phó Tổng thống Kamala Harris (trong chuyến thăm Việt Nam từ ngày 24 tháng 8 đến 26 năm nay), tất cả đều cố gắng hết sức để tán tỉnh, quyên góp tiền và thiết bị, tặng quà, hỗ trợ nhân đạo và hứa sẽ hỗ trợ này. cái kia … hy vọng nhận được cái gật đầu của Hà Nội để nâng cấp quan hệ ngoại giao hai nước từ “đối tác toàn diện” lên “đối tác chiến lược”, nhưng vẫn chưa đạt được.

Và rất có thể lần nâng cấp quan hệ ngoại giao này sẽ không bao giờ đạt được khi Hà Nội nhất quyết không bỏ anh cả Bắc Kinh mà theo trở lại Washington, vì nhà cầm quyền CSVN chỉ muốn tuân thủ nguyên tắc “không liên minh với một nước chống nước khác ”, mặc dù“ nước kia ”đã từng đánh Việt Nam tấn công lan rộng từ đất liền ra biển Đông.

Trong quá khứ, Hoa Kỳ đã “trao đúng số phận” cho Việt Nam Cộng Hòa để chống Cộng và giữ vững an ninh ở Đông Nam Á, trong đó có Biển Đông, là tuyến đường huyết mạch nối liền Tây Thái Bình Dương và Biển Đông. Ấn Độ Dương. Thật không may, Hoa Kỳ đã không duy trì được cam kết với đồng minh nhỏ bé nhưng dũng cảm của mình, chỉ vội vàng rút khỏi Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975, giống như những gì Hoa Kỳ đã trải qua. vừa trải qua Kabul vào tháng 8 năm nay. (Vann Phan) [qd]

————————–
Theo: nguoi-viet.com
[^^1]
[^^2]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *